Thứ Năm, ngày 25 tháng 10 năm 2012

Người bạn nhỏ với bóng hồng nho nhỏ

Rất bất ngờ và thú vị, tôi nhận được thư của một người bạn nhỏ vào sáng sớm tinh mơ (4g30 sáng, cả nhà còn ngủ, chỉ có tôi với sự yên tĩnh của buổi ban mai còn nguyên vẹn chưa hề xáo động). Người bạn ấy cũng là độc giả của blog này, nhưng đang không ở VN mà ở nơi xa.

Với tư cách là chủ nhân của blog, tôi càng vui hơn khi đọc bức thư của người bạn ấy, vì nó cho thấy blog đúng là mối giây liên hệ, dù mơ hồ (như một bàn tay vô hình, hì hì, tôi mà cũng bày đặt nói chuyện lý luận về kinh tế học nữa cơ đấy). Rõ ràng có một sự đồng cảm nào đấy giữa tôi, chủ nhân blog, và những bạn đọc của blog này. Nếu không thế, thi làm sao tôi có thể nhận được những bài viết dễ thương như của anh HAD mà thực ra cho đến nay đối với tôi vẫn là một nhân vật bí ẩn (và cũng còn một vài nhân vật khác không kém dễ thương và/hoặc bí ẩn như bameque hay David Ngo và vài ba người khác nữa, hoàn toàn không biết mặt, không biết ở đâu, nhưng vẫn có tính cách rõ ràng và nhất quán, rất thật chứ không ảo một chút nào). 

Bức thư ấy có kèm một bài thơ dịch . Tôi không thể để tên người dịch vì yêu cầu của người bạn nhỏ ấy, nhưng các bạn đọc của blog này cũng chỉ cần biết nó không phải là của tôi mà thôi. Chỉ nói mí mí thêm một chút: bạn ấy nhỏ tuổi thôi, in his twenties, nên chắc chắn phải đang có một bóng hồng nho nhỏ (hay bự bự?) ở đâu đó trong đời.

Nói thêm: hình như khi người ta có chút tâm trạng thì người ta mới dễ làm thơ hoặc "cảm thơ" thì phải? Ơ nhưng nếu thế thì hình như không đúng với tôi đâu. Tôi ... tỉnh rụi, lý trí nhiều hơn cảm xúc rất nhiều. Cảm xúc của tôi, nếu có, thì bộc phát, lồng lộn như một con ngựa chứng, nên tôi cũng sợ mình rơi vào tình trạng cảm xúc lắm. Lúc nào tôi cũng chỉ muốn dùng lí trí mà thôi, và nhìn chung thì mọi người cho rằng tôi thành công. Một con người rất lý trí, sắc và lạnh, người ta bảo thế. Chả biết có đúng không nữa, mà đúng thì đã sao và không thì có sao không nhỉ? Có hề gì, tôi vẫn là tôi!

Thôi, lăng nhăng thế đủ rồi. Bức thư và bản dịch dễ thương của bài thơ ở dưới đây, các bạn đọc nhé. Và cám ơn người bạn nhỏ của tôi, nếu không có bức thư của bạn thì blog này sẽ rơi vào tình trạng nguội lạnh ít lâu đấy: tôi đang bận quá, thở không ra hơi rồi!

Ấy quên, chưa giới thiệu: Đây là một bản dịch khác của bài A Red, Red Rose của Robert Burns.
-------------------
Chào cô

Đọc blog cô xong em cũng có hứng dịch thơ, có điều chắc chỉ dám đưa cô đọc thôi chứ không tiện đăng lên chỗ nào cả. :D

Em

Em – nụ hồng chớm nở
Ngày tháng sáu tinh khôi.
Em – điệu đàn muôn thuở
Ngọt lành cả lòng tôi.

Em – dáng xinh vừa ghé
Đã đánh thức tim mòn.
Yêu. Ừ, thì yêu mãi
tới ngày biển không còn.

Tới ngày biển không còn,
Ngày đá xanh nóng chảy,
Vệt thời gian đứt gãy,
Tim mới dứt tình hồng.

Câu chào lạc giữa dòng
Phút biệt ly lặng lẽ.
Đời dẫu nhiều ngã rẽ
Vấn có lúc tao phùng.



Thứ Ba, ngày 16 tháng 10 năm 2012

Ma chiến hữu có làm cho Mạc Ngôn không xứng đáng với giải Nobel?

Sự thực là trước khi Mạc Ngôn đoạt giải Nobel, tôi chẳng hề quan tâm đến ông chút nào cả. Đúng, tôi có nghe về Cao lương đỏ, nhưng đó là do cuốn tiểu thuyết ấy được dựng thành cuốn phim rất nổi tiếng và tôi nghe về cuốn phim đó chứ chẳng phải là về cuốn tiểu thuyết hoặc tác giả của nó. Tôi cũng có đọc Ma chiến hữu - đó là lần đầu tiên tôi nhớ đến tên tác giả Mạc Ngôn. Nhưng cũng vậy, tôi tìm đọc Mạc Ngôn và Ma chiến hữu là vì có dư luận ồn ào phản đối việc NXB Văn học in cuốn tiểu thuyết này, và muốn đọc xem nó như thế nào, chứ chẳng phải vì tôi biết danh tiếng của ông như một tiểu thuyết gia.

Khi tìm được và đọc Ma chiến hữu của Mạc Ngôn lần đầu tiên tôi cũng không ấn tượng lắm. Nhưng phải nói là câu truyện cũng gợi được sự tò mò, vì viết về cuộc "trùng phùng" của hai "chiến hữu" đã từng tham gia cuộc chiến năm 1979 với VN nhưng giờ đây thì một là người và một là ma. Câu truyện  không gây ra ấn tượng gì nổi bật, chỉ  trên dưới 200 trang, chứa những câu truyện tâm tình và đùa cợt vui vẻ giữa 2 chiến hữu lâu ngày không gặp nhau, nhắc lại những hồi ức của thời còn ở chung với nhau trong quân đội, không động chạm gì đến VN ngoại trừ việc gọi cuộc chiến theo cách gọi "chính thống" ở TQ là "chiến tranh vệ quốc" (một cụm từ làm dư luận VN sôi sục). Thật ra tôi cũng không rõ Mạc Ngôn còn có thể dùng từ nào khác: các nhân vật trong câu truyện này chính là những người lính TQ, nên đương nhiên họ phải đề cập đến cuộc chiến theo đúng quan điểm và ngôn ngữ "chính thống" của chính quyền của họ (chứ không lẽ họ lại gọi là "chiến tranh xâm lược" - dù Mạc Ngôn có thực sự tin là như thế đi chăng nữa?)

Bây giờ, khi Mạc Ngôn được giải Nobel với những lời phản đối từ phía VN mà chủ yếu do cuốn tiểu thuyết Ma chiến hữu, tôi bỗng tò mò tự hỏi, thực ra trong bụng Mạc Ngôn nghĩ gì về cuộc chiến này nhỉ? Một người đồng nghiệp của tôi thậm chí đã viết bài đăng trên báo khẳng định Mạc Ngôn còn nợ VN một lời xin lỗi. Nhưng rõ ràng qua những lời ông viết trong cuốn tiểu thuyết qua các nhân vật "ma chiến hữu" (tức những người lính đã chết trong cuộc chiến) thì ông đã khẳng định quan điểm của mình, đó là cuộc chiến thật vô nghĩa. Nhưng liệu ông có nghĩ đó là một cuộc chiến tranh xâm lược (như chúng ta đòi hỏi ông phải nghĩ như thế), hay ông cũng tin như ngôn ngữ của các nhân vật của ông rằng đó chính là một cuộc "chiến tranh vệ quốc"? Cái này thì rõ ràng là tôi không thể biết được, và hẳn là nếu ta có hỏi Mạc Ngôn thì có các vàng ông cũng chẳng dám trả lời nếu quả thật ông tin đó là chiến tranh xâm lược. 

Có một điều không được làm rõ ra trong tác phẩm Ma chiến hữu của ông, đó là địa điểm nơi diễn ra những trận đánh là ở trên đất Việt hay đất Tàu. Nếu trên đất Tàu thì rõ đó là sự xuyên tạc, bóp méo sự thật, còn nếu trên đất Việt thì đó là chứng cớ rõ ràng để kết luận rằng đây không phải là cuộc chiến tranh vệ quốc như chính phủ TQ vẫn lu loa, mà đúng là chiến tranh xâm lược, dù Mạc Ngôn có nói thẳng ra như vậy hay không. Việc không làm rõ điều này chẳng hiểu là do ông vô tình hay hữu ý, và cũng vậy, sự thực như thế nào thì chỉ có Mạc Ngôn biết, và sẽ sống để bụng chết đem đi mà thôi.

Nhưng nếu ta tạm quên những điểm chưa rõ hoặc có thể làm cho người Việt tức giận (vì MN gọi cuộc chiến là "chiến tranh vệ quốc"), vốn là điều không thể tránh khỏi khi tác giả và độc giả của một câu truyện có liên quan đến chiến tranh lại thuộc về hai bên chiến tuyến, mà chỉ xem Mạc Ngôn chỉ như một nhà văn bất kỳ nào chứ không phải là nhà văn TQ đã viết về cuộc chiến 1979, thì ta sẽ nghĩ gì về các tác phẩm của Mạc Ngôn nhỉ? Tôi tự đặt cho mình câu hỏi như vậy để rồi tự trả lời câu hỏi là liệu Mạc Ngôn có xứng đáng bị người Việt Nam phản đối khi nhận giải Nobel văn học do đã viết ra cuốn Ma chiến hữu hay không. Phải chăng như nhiều người đã nói, việc trao giải Nobel cho Mạc Ngôn chỉ là một quyết định mang tính chính trị để o bế TQ?

Chỉ có thể trả lời câu hỏi này khi đã đọc ít nhiều các tác phẩm của Mạc Ngôn, mà tôi lại chỉ mới đọc có một cuốn thôi là cuốn Ma chiến hữu, và đang đọc dở dang một cuốn khác là Cây tỏi nổi giận - một tác phẩm rất hay mà chỉ vừa đọc chương đầu tôi đã cảm thấy lôi cuốn và nhớ ngay đến cố nhà văn quân đội Nguyễn Minh Châu của VN. Chỉ đọc có như vậy thôi thì chắc chắn là chưa đủ để phán đoán về một tác giả, đặc biệt là một người vừa được trao giải Nobel. Biết làm sao đây nhỉ?

Thôi thì hãy cứ có gì thì phân tích nấy vậy. Tôi xin chỉ phân tích cuốn Ma chiến hữu là cuốn mà tôi đã đọc kỹ, và cũng đã điểm qua một lần trong entry trước rồi.

Cuốn tiếu thuyết này, theo nhận định của nhiều người mà tôi đã đọc được trên mạng Internet, là cuốn tiểu thuyết viết "xuống tay" nhất của Mạc Ngôn. Quả đúng là nó cũng không quá xuất sắc, nhưng tôi thấy đây cũng là một cuốn sách khá thú vị. Viết về chiến tranh, nhân vật lại là những con ma vốn là những người lính đã chết, nhưng câu chuyện khá nhẹ nhàng, không quá u ám hoặc ghê rợn, thê lương. Đặc biệt là nhân vật con ma Tiền Anh Hào, không những không bi thảm mà lại còn có vẻ nghịch ngợm, vui đùa, phá phách (đó có lẽ là tính cách của bất kỳ người lính trẻ nào: họ còn có thể làm gì nữa trong hoàn cảnh tương tự, chẳng nhẽ cứ ngồi ủ rũ than trách chiến tranh hay chờ chết?). Thế nhưng qua giọng điệu thản nhiên, chấp nhận số phận (bị chết trẻ, hóa thành ma), thậm chí còn đùa vui nghịch ngợm của con ma Tiền Anh Hào, những chi tiết nho nhỏ nhưng nói lên toàn bộ sự thật hoặc bi thảm hoặc lố bịch hoặc tàn ác, ghê rợn vẫn cứ hiển hiện một cách ngang nhiên, không hề được che đậy, giấu giếm.

Ví dụ, các bạn hãy đọc đoạn dưới đây. Còn có cách nào phê phán thói giả dối, hèn hạ và cơ hội của một số (đa số?) các đảng viên của Đảng cộng sản Trung Quốc thẳng thừng hơn những lời này không? Nhưng Mạc Ngôn đã lấy giọng điệu tưng tửng của một con ma tính cách cũng tưng tửng ra để kể một cách tỉnh rụi, lồng nó vào trong những ký ức khác vui có buồn có, khen có chê có, nên có lẽ chính vì thế mà tác phẩm của ông đã lọt qua được bao nhiêu đôi mắt cú vọ của kiểm duyệt:

Chính trị viên chúc rượu Tiền Anh Hào, cậu ta không uống, nói: Đừng có quấy rầy tôi, đồ giả tình giả nghĩa! Chính trị viên mặt đỏ như gấc, nói: Trước đây tôi có nhiều chỗ không phải với cậu, lần này cậu ra tiền tuyến, tôi đã ghi vào lý lịch quân nhân của cậu là ở đây cậu đã làm tiểu đội trưởng - Còn chuyện vào đảng, đảng cấp trên không chuẩn y việc vào đảng quá đột xuất, chúng tôi không có cách nào hơn là chỉ ghi vào lý lịch của cậu là đối tượng đảng, hy vọng chi bộ ở đơn vị mới tiếp tục bồi dưỡng để kết nạp cậu vào đảng. Tiền Anh Hào nghe xong lại vô cùng ác khẩu, nói: Ông hãy mang lý lịch của tôi sửa lại ngay, tôi đây cả đời được sinh ra đàng hoàng thì chết cũng phải vinh quang, chỉ dựa vào năng lực bản thân, chớ có diễn vở kịch thối như cứt mèo ấy làm gì. Tôi chết đi thì bố mẹ tôi sẽ có giấy chứng nhận là gia đình liệt sĩ, mỗi năm nhận thêm hai nghìn công điểm và một trăm năm mươi nhân dân tệ. Nếu còn sống thì tôi sẽ mang huân chương đầy ngực để những người như các ông biết Tiền Anh Hào này là chân anh hào hay giả anh hào! Trung đội trưởng bảo, tôi tin cậu là chân anh hào, còn chính trị viên thì tím mặt lại, nín thinh. 

Đây là một đoạn khác về sự kiểm soát. bóp nghẹt tự do của hệ thống đảng trong quân đội TQ:

Nói cho cậu hay, đừng bao giờ nghĩ rằng bọn tớ đã chết là hoàn toàn tự do. Không có chút tự do nào hết. Ở chỗ chúng tớ có một ngàn hai trăm chín bảy ngôi mộ, tất nhiên là để chôn một ngàn hai trăm chín bảy người. Bước vào cổng nghĩa trang là phải đến chỗ trực ban để báo danh, giống như ngày nhập ngũ của chúng ta thời ấy vậy. Chúng tớ lập thành một trung đoàn, trung đoàn trưởng vốn là một trung đoàn trưởng khi còn sống, sau khi chết vẫn được đề bạt làm trung đoàn trưởng. Trung đoàn tớ tổ chức thành bảy tiểu đoàn, mỗi tiểu đoàn gần một trăm tám mươi người. Tớ thuộc tiểu đoàn sáu. Trong ban chỉ huy trung đoàn có một vị trung đoàn phó đeo kính đến tìm tớ, đề nghị tớ làm chính trị viên tiểu đoàn. Tớ nói, tôi không phải là đảng viên thì sao lại có thể làm chính trị viên?

Lại còn nguyên do rất ngớ ngẩn dẫn đến "sự hy sinh" của con ma Tiền Anh Hào; đúng, đó chỉ là một chi tiết buồn cười, nhưng một nhà văn dày dạn như Mạc Ngôn với những tiểu thuyết lừng lẫy như Cao lương đỏ chẳng lẽ lại đưa vào một chi tiết vớ vẩn như vậy chỉ để cười chơi?

Tớ hỏi: Ai sẽ chỉ huy cùng với tôi. Trung đội phó nói: Tạm thời cử đồng chí La Nhi Hổ làm tiểu đoàn trưởng. Nghe nói cậu ấy đã từng giữ chức Tiểu đội trưởng của tiểu đội cậu phải không? Vừa nghe xong câu này tớ đã nổi dóa lên. Cậu xem, tớ làm sao có thể hợp tác chỉ huy cùng với gã ngốc nghếch ấy. Hắn chỉ biết cầm thước tre để đo chăn gấp, miệng lúc nào cũng chì biết nói: Rộng quá một phân; hẹp mất một phân. Gấp lại, gấp lại! Chỉ khi vào chiến trường, lúc cần bản lĩnh thực sự thì chân nhũn ra, tay ôm lấy đầu, ném lựu đạn thì quên rút chốt, đánh bộc phá thì chẳng giật nụ xòe, khi tấn công vào một điểm cao vô danh, nếu hắn không giơ cái mông quá cao làm lộ mục tiêu để mời hai quả pháo ập đến thì hắn đâu đến nỗi phải chết, kể cả tớ cũng đâu đến nỗi mạng vong. Nói rằng tớ chết bởi tay quân địch, nhưng thực tế thì... Phì! Triệu Kim à, cậu có thấy tớ chết oan không? Vừa vào chiến trường, một phát súng chưa kịp bắn ra, một quả lựu đạn chưa kịp ném đi mà người ta lại hồ đồ. Giấy chứng nhận liệt sĩ bố tớ đã có, nhưng thực tế tớ chết chẳng ra gì... 

Đây là gì, nếu không phải là phản chiến?

Trong chiến tranh cách mạng lâu dài này, những người hy sinh như chúng ta kể có hàng nghìn hàng vạn nhưng mà oanh liệt như Đổng Tồn Thụy, Hoàng Kế Quang thì liệu có dược mấy người. Phần nhiều các đồng chí đều giống như các cậu và tôi, chết một cách yên lặng. Bao nhiêu là kiểu chết: chết rét, chết đói, chết nước, còn có cả người chết vì bị chó cắn, chết vì bị ốm đau... Trương Ân Đức thì rơi vào hố vôi mà chết... Vì nhân dân mà chết còn nặng hơn cả Thái Sơn. Ngay cả tôi đây, khi lội qua sông bị nước chảy mạnh xô ngã mà chết chìm, tôi cũng cảm thấy vô cùng vinh dự. Đồng chí, dù gì thì chúng ta cũng đã lưu một cái tên ở trên bia mộ, còn hàng nghìn hàng vạn đồng chí của chúng ta chết mà chẳng có lấy một cái tên, thế cậu nói đi, họ là anh hùng hay là đồ vứt đi? 

Còn đây là gì, nếu không phải là lời khẳng định sự nghi ngờ vốn tồn tại ở TQ, đặc biệt là trong hàng ngũ quân nhân, về sự cần thiết của cuộc chiến tranh với VN năm 1979, và sự lố bịch của lời ca ngợi "vinh quang" dành cho những người lính TQ:

- Các đồng chí! Hôm nay toàn sư đoàn ta tập hợp là để quán triệt những chỉ thị của cấp trên. Trong thời gian gần đây chung quanh vấn đề mở cửa biên giới, nhân dân hai nước nối lại tình hữu nghị truyền thống, có một số người cảm thấy trong lòng có chút uất ức, có người còn bình luận không mấy tốt về vấn đề này, nào là “máu của chúng ta đổ một cách vô ích”, nào là “hy sinh của chúng ta chẳng có chút giá trị gì”… Các đồng chí! Những suy nghĩ này vô cùng nguy hiểm. Các đồng chí! Chúng ta là quân nhân, thiên chức của chúng ta là phục tùng mệnh lệnh, cấp trên bảo chúng ta đánh tới đâu, chúng ta phải xông lên tới đó. Tình hình thế giới không ngừng thay đổi quan hệ giữa các nước với nhau cũng không ngừng thay đổi. Ngày ấy, chúng ta và họ dùng súng đạn để nói chuyện với nhau, qua đó mà mới có được hòa bình hôm nay. Nhân dân không có oán thù gì với nhau, chiến tranh và hòa bình đều là biểu hiện của tình hình chính trị. Chúng ta hy sinh là vinh quang, quá khứ của chúng ta là vinh quang, lúc này cũng vinh quang, tương lai cũng vẫn cứ vinh quang. Bất kỳ một sự hoài nghi nào về sự vinh quang của chúng ta đều là sai lầm, những sai lầm cực kỳ nghiêm trọng! 

Ở đây tôi xin không trích dẫn lại đoạn ký ức của một người lính TQ khi kể lại lần về phép cuối cùng trước khi anh ta chết, một đoạn lột tả cuộc sống cùng khổ của người nông dân giai thời TQ mới đổi mới sau mấy chục năm khổ ải dưới ách Mao Trạch Đông, kẻ giết người mà một thời đã được ca ngợi ở VN như một vị anh hùng, và được so sánh với Hồ chủ tịch ("Bác Mao không ở đâu xa/Bác Hồ ta đó cũng là bác Mao"  - Thơ Tố Hữu). Tôi cũng không còn chỗ trên entry này (vì đã quá dài) để trích dẫn mấy chương cuối cùng nói về cảnh khổ của cha Tiền Anh Hào đi tìm mộ con - những đoạn văn mang tính hiện thực phê phán rất cao mà các bạn nên đọc trước khi đặt bút lên án Mạc Ngôn. Đúng, ông là đảng viên, là nhà văn quân đội TQ, và còn là lãnh đạo của Hội nhà văn TQ nữa, nên ông không thể (dù có muốn) thẳng thừng lên án chế độ, lại càng không thể có quan điểm giống chúng ta. Nhưng tôi nghĩ, thiên chức cao cả nhất của một nhà văn là thể hiện cuộc sống như nó vốn có, và bộc lộ những số phận, những suy nghĩ, những tâm hồn của những con người bình thường nhỏ bé mà lịch sử chắc chắn sẽ bỏ qua không đề cập đến thì ông đã làm, đang làm, và tôi tin là ông làm tốt.

Tôi đã trích dẫn khá nhiều, và cũng tự mình đọc đi đọc lại nhiều lần cuốn tiểu thuyết ấy. Và vẫn kết luận là chúng ta không cần phải tức giận với việc Mạc Ngôn đoạt giải Nobel. Đúng, TQ là một tên hàng xóm xấu tính, khó chơi, chuyên chơi trò "ỷ lớn ăn hiếp bé". Nhưng khi thể hiện số phận của những người dân TQ đáng thương trong các tiểu thuyết của ông, kể cả trong cuốn Ma chiến hữu, cho dù bằng một cách khôn khéo để Đảng tin, dân mến, địch yêu như ai đó đã nói, chẳng phải Mạc Ngôn đã (tạm) làm tròn trách nhiệm và lương tâm của một nhà văn đích thực đó sao? Vậy thì tại sao ta lại không thể tin được rằng việc trao giải Nobel cho ông là chuyện lựa chọn dựa trên giá trị văn học của tác phẩm (dù ta có thể không cùng "gu" với Hội đồng tuyển chọn), chứ không phải là một lựa chọn chính trị như chính Mạc Ngôn đã phát biểu, hay sao?

Thứ Hai, ngày 15 tháng 10 năm 2012

Đọc lại Ma chiến hữu của Mạc Ngôn

Nhân việc nhà văn Mạc Ngôn vừa đoạt giải Nobel, tôi bỗng nhớ ra nhà văn này chính là tác giả cuốn tiểu thuyết Ma chiến hữu, đã được dịch và xuất bản tại Việt Nam cách đây ít lâu. Và cũng đã từng gây tranh cãi om xòm trên thế giới mạng. Nói chung, đa số bạn đọc (là gọi như vậy theo thói quen thôi, chứ có thể họ chưa thực sự đọc) đều phản đối việc NXB Văn học cho dịch và phổ biến cuốn sách này, vì đó là cái nhìn của TQ về cuộc chiến 1979 giữa VN và TQ, một cuộc chiến mà cho tới giờ hầu như vẫn chưa có nhà văn Việt Nam nào dám đề cập đến (vì sợ cái gì chẳng rõ).

Chính vì những om xòm của dư luận nên lúc ây tôi cũng đi tìm cuốn Ma chiến hữu để đọc, và thấy sự phản đối kia có lẽ không hoàn toàn chính xác. Đúng, bạn đọc có thể phản đối việc nhà nước cấm cuốn Rồng đá của một nhà văn Việt trong đó có câu truyện được viết trên bối cảnh của cùng cuộc chiến tranh nói trên. Nhưng không thể nói vì Rồng đá bị cấm mà Ma chiến hữu cũng phải bị cấm cho công bằng, vì sự công bằng này là công bằng dựa trên thân thế của tác giả (Mạc Ngôn là người TQ, vậy nếu tác giả VN bị cấm thì tác giả TQ cũng bị cấm, cho nó công bằng?), chứ không dựa trên chính tác phẩm của họ. Thật là một cái nhìn mang nặng "chủ nghĩa lý lịch" mà bao lâu nay chúng ta đã lên án.

Một điều khác cũng có thể làm cho cuốn sách bị phản đối là lời giới thiệu cuốn sách của nhà xuất bản ở trang  ngoài bìa sau (trang bìa số 4). Lời giới thiệu ấy nói, cuốn sách này là "một cách ca ngợi riêng chủ nghĩa anh hùng"! Cái gì, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng của những kẻ thù của chúng ta trong cuộc chiến ư, quả là xúc phạm thật, đặc biệt là trong bối cảnh TQ đang leo thang xâm lược biển đảo của VN, mà nhà nước ta thì cứ lúng ba, lúng búng như ngậm hột thị trong miệng, không phát biểu được câu nào cho dõng dạc ngoài mấy câu "chủ quyền không thể tranh cãi" vv.

Nhưng dù có hiểu được những tâm tình đó đến đâu thì tôi cũng thấy mọi người phản đối Ma chiến hữu có lẽ chỉ vì thành kiến mà thôi, vì cuốn sách ấy không hề xúc phạm Việt Nam. Nếu quả nó có xúc phạm ai đó thì phải là cuốn sách ấy xúc phạm Trung Quốc thì đúng hơn. Vì đây là một cuốn sách rõ ràng là viết với mục đích phản đối sự vô nghĩa của cuộc chiến tranh ấy.

Chứ chủ nghĩa anh hùng cái quái gì mà như thế này:

Ái da! Đau quá! Đau quá, mẹ ơi! Đau quá, 
Thân hình con đã bị đạn xuyên qua. Viên đạn xuyên qua đập vào thân cây con đang tựa, 
Nó cũng bị thương rồi kêu lên thê thảm: Mẹ ơi! 
Tiếng kêu thương ấy vẫn văng vẳng bên tai con: 
Tôi chẳng tội tình gì, sao bắn vỡ đầu tôi, 
Nó ngăn trở dòng máu trong tôi, tôi sắp chết! 
Vĩnh biệt mẹ, mẹ yêu, vĩnh biệt, 
Đâu phải mẹ đưa con xông thẳng đến chiến trường 
Bao bài ca đều là tưởng tượng hoang đường. 
Viên đạn xuyên qua tôi 
lại đâm thẳng vào đầu mẹ, 

Mẹ tôi lại bị thương! 
Tiếng mẹ kêu thương còn dài hơn cả Hoàng Hà Trường Giang: 
Hãy để cho tôi hứng viên đạn đoạn trường, 
Đầu bạc tiễn đầu xanh, 
Ôi sao mà đau thuơng! 
Ôi đau quá, mẹ ơi! Con đau quá! 
Ôi đau quá, mẹ ơi! Con đau quá! 

(Bài thơ của một linh hồn người lính TQ đã chết trong cuộc chiến)

Cảm nhận về sự vô nghĩa của cuộc chiến được Mạc Ngôn nêu rất rõ ngay từ đầu cuốn sách, ví dụ như qua đoạn này:
- Trong tờ báo này có một bản tin, chỉ cần đọc qua là tôi không thể kiềm chế được nữa. 
- Tin gì? - Tiểu đoàn trưởng La hỏi. 
- Anh hãy tự xem đi! - Hoa Trung Quang đưa tờ báo cho La Nhi Hổ. 
Tôi cũng nghiêng đầu nhìn vào tờ báo, trông thấy trên tờ báo rách lỗ chỗ có một bản tin cũng bị rách lỗ chỗ. Nội dung bản tín này là, căn cứ vào tin của Bộ ngoại giao, mối quan hệ giữa hai nước Trung Quốc và Việt Nam đã bắt đầu bình thường hóa. Tôi quay đầu lại hỏi Hoa Trung Quang: 
- Bản tin này làm cho cậu khóc như thế sao? 
- Chính trị viên, - Nước mắt Hoa Trung Quang vẫn còn đọng trên mắt - Tôi càng nghĩ càng cảm thấy mình chết thật là oan uổng. 

Vâng, hôm nay đọc lại Ma chiến hữu, tôi chỉ càng cảm thấy Mạc Ngôn xứng đáng được nhận giải Nobel (dù có những ý kiến này khác), chứ hoàn toàn không tức giận gì. Vì ông đã dũng cảm viết lên những điều mà chắc chắn nhà nước TQ, và cả những người dân TQ, những người đã bị xua vào cuộc chiến tranh này, sẽ không thể hài lòng. Nếu có ai tức giận, tôi nghĩ những người đó phải thuộc phía TQ, chứ không thể là phía VN.

Có một điều mà khi tôi nói ra có thể sẽ bị mọi người phản đối, đó là khi đọc cuốn sách này tôi cũng không còn thấy oán trách những người lính TQ bị xua qua biên giới VN để gây chiến, mặc dù họ đã bắn phá, giết hại không biết bao nhiêu người VN của chúng ta. Bởi suy cho cùng, họ cũng là những nạn nhân, nạn nhân của chính sách bá quyền nước lớn của nhà cầm quyền của họ  vào thời đó (lúc ấy đang là thời của Đặng Tiểu Bình). Và trên hết, họ cũng là những con người, có tình cảm, có những niềm vui, nỗi khổ y hệt như chúng ta. Ví dụ như trong đoạn sau đây, kể về tình cảnh của một gia đình người lính TQ mà anh ta đã đau đớn chứng kiến khi anh ta về phép thăm gia đình:

Đến khuya vợ mình mới về. Cô ấy vứt cái bao đầy bông nặng trình trịch trên vai xuống, lạnh lẽo gật đầu chào mình, chẳng quan tâm gì đến chuyện ăn một miếng cơm, ôm lấy con bé. Nó vội vàng dụi đầu vào ngực mẹ để tìm cái ăn, và cuối cùng nó đã tìm ra. Mình nghe tiếng nó mút, nghe tiếng nó nuốt sữa. 

Trong ánh đèn dầu nhập nhoạng, vợ mình nhắm nghiền đôi mắt ngồi trên chiếc băng dài, sắc mặt vàng võ, bất động, còn đứa con gái thì miệng mút, tay chụp, chân đạp... Cuối cùng thì con bé đã ngủ trong lòng mẹ nó. Vợ mình mở mắt, đặt con bé xuống chiếc giường ọp ẹp. Mẹ nói: Mẹ con Phân Phân à, ăn cơm đi! Cô ấy nói vâng rồi khoát nước trong khay nước để cho gà uống rửa tay qua loa, lau tay vào chiếc khăn đen. Dây phơi động đậy khiến hàng trăm con ruồi đang đậu trên dây bay vù loạn xạ dưới ánh đèn mờ tỏ, lát sau lại quay về vị trí cũ tiếp tục ngủ.

Những trận gió đêm thổi từ ngoài cánh đồng vào mang theo mùi lá mục. Ngọn đèn chỉ lớn hơn hạt đậu dao động, leo lét và có thể tắt bất cứ lúc nào, trông thật đáng thương. Mẹ lại giục: Ăn cơm đi! Chiếc bàn ăn nhỏ xíu đặt trên giường mẹ, trên bàn chỉ có một đĩa rau với một bát nước tương. Bố ngồi ở đầu giường, vừa hút thuốc lá cuốn vừa ho. Mẹ gắt: Đã ho thì đừng hút nữa. Bố chẳng nói chẳng rằng, đôi mắt thi thoảng lại lóe lên khi đốm thuốc lá rực đỏ lên. Mẹ nói: Mẹ của Phân Phân à, con mở vung lấy cơm đi, chân mẹ đau quá đứng lên không được - Nói xong, mẹ vịn thành giường bò lên giường. Vợ mình mở nắp vung bê ra một đĩa khoai và hai bát cơm... Thôi thôi, mình cứ lan man về chuyện này làm gì nhỉ. Chỉ chớp mắt là mười ngày phép đã qua, phải trở lại đơn vị thôi. Bố khóc, mẹ cũng khóc, làm như đưa mình vào chỗ chết không bằng. Vợ mình chẳng khóc, chỉ lặng lẽ ôm lấy Phân Phân trông như một bức tượng gỗ... Mình sờ mặt con bé, nói: Phân Phân, chờ nửa năm nữa là bố về... Lúc này nước mắt vợ mình mới trào ra... Có ai ngờ lần ấy ra đi... 


Thật là đáng thương, đúng không? Nhưng có phải tôi đang mơ hồ, không phân biệt ta, địch hay không? Không, hoàn toàn không phải thế. Hơn ai hết, tôi sẵn sàng chống lại TQ xâm lược trong điều kiện hiện có của tôi, ví dụ như tẩy chay hàng TQ từ mấy năm nay rồi. Tuyệt nhiên không mua thứ gì của TQ cả. Nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta phải căm ghét mọi người TQ. Và tẩy chay không đọc sách của người TQ viết ra, cho dù người ấy có đoạt giải Nobel đi chăng nữa.

Tôi nghĩ, đúng ra, càng ghét TQ thì chúng ta càng phải đọc về TQ để hiểu họ. Và văn học theo đúng nghĩa của nó phải làm cho con người xích lại gần nhau hơn, kể cả những cựu thù như VN với TQ. Văn học phải làm cho con người ta nhân đạo hơn, tôi đã đọc được ở đâu đó một câu như thế. Mà VN với TQ và những nước theo chủ nghĩa cộng sản khác thì lâu nay đã quá thiếu tính nhân đạo rồi. Suốt ngày chỉ ca ngợi chiến tranh, chiến đấu, anh hùng, hy sinh vì tổ quốc, vì Đảng quang vinh gì gì đấy thôi. Nên mới ra bao nhiêu là vấn nạn mà chúng ta đang nhìn thấy ngày hôm nay. Không, chúng ta cần phải khác đi, rõ ràng là thế. Bắt đầu từ những việc nhỏ, những suy nghĩ nho nhỏ.

Nếu ai chưa đọc cuốn Ma chiến hữu thì có thể tìm đọc ở đây này: http://kinhdotruyen.com/tac-gia-mac-ngon/truyen-ma-chien-huu.html. Các bạn đọc đi rồi cho tôi biết ý kiến nhé.

Thứ Năm, ngày 11 tháng 10 năm 2012

Tác giả Cao lương đỏ đoạt giải Nobel văn chương 2012



Theo thông tin (nóng hổi) từ trang web chính thức của giải Nobel (http://www.nobelprize.org/nobel_prizes/literature/laureates/2012/bio-bibl.html), giải Nobel văn học năm 2012 đã được trao cho nhà văn Mo Yan (tiếng Việt là Mạc Ngôn), một nhà văn Trung Quốc sinh năm 1955 (cùng thế hệ với tôi). Dưới đây phần tóm tắt tiểu sử của nhà văn Mo Yan, trích từ trang web nói trên.
------------

Mạc Ngôn sinh năm 1955, là con của một gia đình nông dân. Ông sinh ra và lớn lên ở Sơn Đông, một tỉnh ở vùng đông bắc Trung Quốc. Khi cách mạng văn hóa diễn ra ông mới 12 tuổi, phải nghỉ học để đi làm ruộng, sau đó vào làm tại một nhà máy. Năm 1976 ông tham gia quân đội và trong thời gian này bắt đầu theo học văn chương và bắt đầu cầm bút. Truyện ngắn đầu tay của ông ra đời năm 1981, và ông bắt đầu khẳng định được tên tuổi của mình vài năm sau đó với tiểu thuyết Touming de hong luobo năm 1986. Tiểu thuyết này đã được dịch sang tiếng Pháp dưới tựa đề  Le radis de cristal vào năm 1993.


Trong các tác phẩm của mình, Mạc Ngôn viết về các trải nghiệm tuổi thiếu thời của ông, với những biến động của thời cuộc như cuộc chiếm đóng của Nhật Bản tại TQ và cuộc sống khắc nghiệt của nông dân, công nhân TQ thời ấy. Điều này được phản ánh rất rõ qua tác phẩm lừng danh 
Hong gaoliang jiazu Cao lương đỏ (1987), được Trương Nghệ Mưu dựng thành phim trong cùng năm và sau này được dịch sang tiếng Anh với tựa Red Sorghum vào năm 1993. 


Phong cách của Mạc Ngôn được nhận định như sau: Thông qua sự kết hợp giữa trí tưởng tượng và thực tại, giữa quan điểm lịch sử và xã hội, Mo Yan đã tạo ra một thế giới vừa phảng phất hơi hướng của phong cách William Faulkner lẫn Gabriel García Márquez, đồng thời lại vẫn giữ được phong cách truyền thống của tiểu thuyết cổ của Trung Quốc. Ngoài tiểu thuyết, Mo Yan còn xuất bản nhiều truyện ngắn và tiểu luận về các chủ đề khác nhau, và bất chấp những lời chỉ trích tại chính quê hương mình, ông vẫn được xem như là một trong những tác giả đương đại quan trọng nhất.
------------------


Xin chân thành chúc mừng nhà văn Mạc Ngôn, người cùng thời của tôi!

Thứ Tư, ngày 10 tháng 10 năm 2012

Khi anh vừa tròn hai mốt tuổi...

Chẳng biết tại sao, trí nhớ nghịch thường của tôi hôm nay lại dẫn dắt tôi về một bài thơ mà tôi đã dịch cách đây hơn 30 năm rồi. Lúc ấy, tôi đang học khoảng năm hai, năm ba ở Khoa Ngữ văn nước ngoài của ĐH Tổng hợp (tức ĐH Văn Khoa cũ, bây giờ là ĐH KHXH-NV), đang học văn chương Anh-Mỹ, và rất thích dịch thơ (nếu không phải là tự làm - toàn là thơ con cóc).

Thơ dịch của tôi cũng nhiều nhiều, có bài hay, bài dở, nhưng chủ yếu chỉ làm vì mình thích, gửi vài ba người bạn đọc chơi, cho vui. Rồi quên, có khi là quên sạch, thường là chỉ nhớ lõm bõm vài câu. Nhưng lâu lâu cũng có những bài mà đến giờ tôi vẫn có thể nhớ trọn vẹn; thường là những bài thơ tôi rất thích, hoặc những bản dịch mà tôi rất hài lòng, hoặc nếu không nữa thì phải gắn với một kỷ niệm nào đó.

Bài "Khi anh vừa tròn hai mốt tuổi" là một trong những bài mà ngày xưa tôi rất thích. Hình như tôi đã dịch nó vào một dịp sinh nhật thứ hai mốt của tôi, khi ấy một người bạn của tôi đang trong tình trạng "lòng bận tơ vương", học hành có ít nhiều sa sút. Còn tôi, lúc ấy tôi vẫn còn hoàn toàn "ngây thơ", "hồn nhiên", chỉ biết cắm đầu cắm cổ học, khi nào rảnh không phải học thì lại tha thẩn đọc văn làm thơ, lòng không vướng bận chi cả. Nên thấy bài thơ đó rất hợp với những gì mình nghĩ, nghĩ về chính mình và nghĩ về bạn bè.

Hôm nay lại là ngày sinh nhật của một người bạn khác, một người ở rất xa ("khoảng cách là nửa vòng trái đất" - thơ của tôi đấy). Những người bạn tuổi thơ của tôi, từ thời trung học. Có thể chính vì thế mà tôi lại nhớ lại thuở xa xưa của mình, "khi Anh vừa tròn hai mốt tuổi" (từ "anh" ở đây cần phải viết hoa, vì đó là Phương Anh đấy mà). Một thời hoa mộng, thấm thoát đó mà đã hơn 30 năm.

Chép lại ở đây để khỏi quên, và cũng là để gửi đến những người bạn tuổi thơ của tôi, để nhớ lại một thời của chúng ta, "khi mới lớn tuổi mười lăm, mười bảy/làm học trò mắt sáng với môi tươi". Và Happy Birthday, bạn  nhé!

Khi anh vừa tròn hai mốt tuổi

Khi anh vừa tròn hai mốt tuổi
Một nhà thông thái đã khuyên anh
Hãy cho đi tiền bạc, tiền đồng
Đừng cho đi trái tim quý giá
Hãy cho đi ngọc ngà, châu báu
Nhưng giữ lòng đừng bận tơ vương 
Ôi, lời ông nói ích chi đâu
Khi anh chỉ vừa hai mốt tuổi?

Khi anh vừa tròn hai mốt tuổi
Cũng nhà thông thái ấy khuyên anh
Một khi đã hiến trái tim mình
Anh sẽ gặp biết bao sầu muộn
Tiếng thở dài muôn đời không ngớt
Và nỗi buồn trọn kiếp khôn nguôi
Giờ anh hai hai tuổi mất rồi
Mới hiểu trọn những lời ông nói.


Bản gốc tiếng Anh dưới đây:

When I was one-and-twenty
 A. E. Housman (1859–1936).
WHEN I was one-and-twenty
  I heard a wise man say,
‘Give crowns and pounds and guineas
  But not your heart away;
Give pearls away and rubies        5
  But keep your fancy free.’
But I was one-and-twenty,
  No use to talk to me.

When I was one-and-twenty
  I heard him say again,        10
‘The heart out of the bosom
  Was never given in vain;
’Tis paid with sighs a plenty
  And sold for endless rue.’
And I am two-and-twenty,        15
  And oh, ’tis true, ’tis true.

Thứ Ba, ngày 09 tháng 10 năm 2012

Cái giá của sự thật

Tôi đang trong lúc bận quá, không định viết gì. Nhưng lại vừa đọc được một mẩu tin khiến tôi không thể không viết. Để thổ lộ một chút những gì đã chất chứa sẵn trong lòng tôi lâu nay.

Số là, hầu hết tất cả những người biết tôi ở nơi làm việc (tức là những người khác với bạn bè thời đi học, hoặc gia đình và hàng xóm - những người này thì biết về một cái tôi khác, dễ thương hơn nhiều) đều cho tôi là một kẻ rất khó chịu. Tôi nhớ khi chuyển sang nơi làm việc mới hiện nay, thì các sếp mới có hỏi một người đồng nghiệp biết tôi ở trường cũ, hỏi tôi là người như thế nào. Và chị đồng nghiệp ấy đã trả lời 2 câu: "Nó được việc lắm đấy, và nó đã làm mích lòng rất nhiều người".

Tôi biết điều này vì sau ấy chị bạn đồng nghiệp đã kể lại cho tôi nghe. Tôi ... hơi ấm ức (vì thấy mình cũng ... tốt bụng mà!) nhưng cũng phải thừa nhận là chị ấy nói đúng, thậm chí chính xác không chạy vào đâu được.

Nhưng nguyên do của tất cả việc "làm mích lòng nhiều người", đôi khi đến độ không còn nhìn mặt nhau nữa, và căng thẳng, khó chịu đến độ phải bỏ đi nơi khác để làm việc (tôi nổi tiếng là hay từ chức, bỏ đi làm việc khác vì không hài lòng với bối cảnh làm việc hiện có) chỉ có một thôi, đó là: tôi luôn nói đúng những gì mình nghĩ, dù điều đó có thể đụng chạm đến ai đó - đồng nghiệp, hoặc thậm chí cấp trên. Nhưng tôi chẳng có ý đồ gì ngoài việc muốn cho công việc tốt lên mà thôi. Nói ra để mọi người thấy và thay đổi cho tốt hơn, thì đâu có hại gì ai đâu, tôi nghĩ thế. Chứ biết mà không nói, chỉ vì sợ đụng chạm, chỉ muốn yên thân, "cháy nhà hàng xóm, bình chân như vại" thì ... còn ra thể thống gì nữa cơ chứ?

Đấy là tôi nghĩ vậy. Ngây thơ cụ quá phải không,  vì thực ra trên đời không phải lúc nào người ta cũng thích nghe sự thật. Nói đúng hơn, đa số người ta không thích thậm chí căm thù sự thật. Well, ở nơi khác thì tôi không có kinh nghiệm nên không biết, nhưng ở VN thì chắc chắn là như thế. Thì đó, vụ nhà báo Hoàng Khương vẫn còn rành rành ra đó, hoặc gần đây hơn nữa là vụ mấy blogger. Những người đó, có lẽ họ cũng chỉ muốn có một điều thôi, đó là tìm ra sự thật, hoặc nói lên sự thật. Và kết cục như thế nào đã quá rõ.

Bản thân tôi cũng đã rút ra được khá nhiều bài học kinh nghiệm về việc muốn biết và muốn nói sự thật. Giá chót: ai cũng ghét mình, và mình cũng ghét người ta, rõ quá rồi, vì chẳng có ai thích bị người khác ghét cả. Nên phải bỏ đi nơi khác. Được cái tôi cũng không quá kém cỏi, đi đâu cũng làm việc được, nên tìm nơi để bỏ đi cũng khá dễ dàng. Nhưng chẳng lẽ cứ bỏ đi mãi, cứ bắt đầu lại mãi như vậy sao, một người bạn khác của tôi hỏi tôi như vậy.

Và ... tôi không trả lời được. Ừ, người ta có thể nhận tôi ở tuổi 30, tuổi 40, ở tuổi 50 even, nhưng tôi không tin là người ta sẽ sẵn sàng nhận tôi ở tuổi 55, tuổi 60, tuổi 70 vv nếu như ở chỗ nào tôi cũng "nói không sợ mích lòng", sẵn sàng "phát biểu gây shock", "đanh đá" như mọi người vẫn nói về tôi như vậy.

Vậy mà hôm nay, lại có một người cũng muốn đi tìm sự thật, lại còn phát biểu là sẵn sàng trả giá cho nó. Người ấy là thạc sĩ Nguyễn Huỳnh Thuật, người đã gửi tâm thư lên chủ tịch nước để đề nghị cứu Rừng quốc gia Cát Tiên khỏi dự án thủy điện. Và hậu quả (đương nhiên mà ai cũng đoán được) đang bắt đầu xảy ra với anh. Đầu tiên là bị cơ quan kiểm điểm, bị kỷ luật khiển trách. Vậy mà anh Thuật vẫn còn phát biểu là anh ấy chấp nhận trả giá chứ không rút lại lời đề nghị của mình. Các bạn có thể đọc sơ sơ về việc ấy ở đây: http://nld.com.vn/2012100810313242p0c1042/vu-gui-tam-thu-len-chu-tich-nuoc-dung-lam-kho-nguoi-co-tam.htm.

Hay lắm anh Thuật ạ. Hoan hô anh, và mong anh chân cứng đá mềm, và cuộc đấu tranh của anh sẽ đem lại một kết cục tốt đẹp. Mặc dù tôi cũng không tin lắm vào điều đó. Mà chỉ lo ngại cho anh thôi. Lo vì những hậu quả xấu có thể đang rình râp anh, biết đâu được đấy?

Vì tôi sực nhớ có một câu danh ngôn nước ngoài khá nổi tiếng mà tôi đã đọc được ở đâu đấy: "Nắm được sự thật, ta có thể đi đến bất cứ nơi đâu, kể cả vào tù".

Nhưng ... dù biết như vậy, nhưng may quá là trên thế giới vẫn còn những người sẵn sàng trả giá để nói lên sự thật. Và may hơn nữa là ở VN cũng không hề thiếu những người như vậy. "Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau, nhưng hào kiệt đời nào cũng có", đấy là lời của Nguyễn Trãi tự khi xưa, nhưng bây giờ vẫn đúng, kể cả ở đất nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thời nay, thời mà có ai đó đã thốt lên rằng "cả một thời giả dối đã lên ngôi".

Vậy nên, chúng ta vẫn có quyền hy vọng. Và anh Thuận vẫn có hy vọng, và vẫn còn đủ dũng khí để làm. Tôi chỉ mong anh không cô đơn trong cuộc đấu tranh của mình tại đơn vị. Hẳn là vẫn có những người khác âm thầm ủng hộ anh, dù họ không đủ dũng khí để làm giống như anh.

Chúc mọi việc tốt đẹp, anh Thuật nhé!

Chủ Nhật, ngày 07 tháng 10 năm 2012

Tản mạn Le Pont Mirabeau


Xin giới thiệu với các bạn bài viết và bản dịch Le Pont Mirabeau của anh Hoàng Anh Dũng, người bạn thơ của tôi.
-----------------
Chiếc cầu là đề tài phổ biến trong Văn Chương. Người ta không thể nào biết chính xác có bao nhiều bài thơ, bài nhạc nói về chiếc cầu. Ở Việt Nam mình cũng vậy, có không biết cơ man nào là ca dao, tục ngữ, thơ, nhạc nói về cây cầu. Mấy câu  ca dao sau đây thì hầu như ai cũng thuộc:
     
Yêu nhau cởi áo cho nhau
Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay
Hoặc là :
Qua cầu ngả nón trông cầu,
Cầu bao nhiêu nhịp, dạ em sầu bấy nhiêu

Và những người ở miền sông nước Tây Nam Bộ làm sao có thể quên được hình ảnh cảm động đầy nước mắt về người mẹ năm xưa và ngày ấu thơ của mình:

dầu cầu dzáng đóng đinh
Cầu tre lắc lẻo gập ghình khó đi
Khó đi mẹ dắc con đi
Con thi trường học, mẹ thi trường đời

Người miền Tây Nam Bộ có cách phát âm đặc biệt và ở trên là cách “ký âm ” theo đúng thực tế - chứ không phải theo đúng chính tả.Các bạn nhớ những từ này nhé : dí dầu, cầu dzáng,gập ghình, dắc  mà không phải là ví dầu, cầu ván,gập gềnh, dắt. Tôi có mấy người bạn lớn tuổi ở xa, mấy chục năm trở lại  miền Tây, chỉ nghe tiếng ru con, với đúng cách phát âm bài ca dao trên, mấy ông lão đầu bạc trắng đã ôm nhau khóc rưng rức ! Có mấy ông khóc nức nở ! Hôm đó, ai cũng rưng rưng nước mắt!

Đấy tình quê hương mạnh biết dường nào ! Tiếng Việt mạnh đến dường  nào!

Nói về nhạc, thì Việt Nam cũng có nhiều bài về cây cầu.Tuy nhiên bài Bên Cầu Biên Giới của Phạm Duy, giọng hát Thái Thanh, đối với tôi, quả là một tình ca tuyệt phẩm, về phần nhạc cũng như phần ca từ.Tuyệt tuyệt hay!  Tôi chép ra đây để các bạn cùng thưởng thức :

BÊN CẦU BIÊN GIỚI

Ngừng đây soi bóng bên giòng nước lũ
Cầu cao nghiêng dốc bên giòng sông sâu
Sầu vương theo sóng xuôi về cuối trời
Một vùng đau thương chốn làng cũ quê xưa

Người đi chưa hết vương sầu lữ thứ
Hồn theo cánh gió quên tình xa xưa
Tuổi xanh như lá thu rụng cuối mùa
Mộng về đêm đêm khát vừng trán ngây thơ

Em đến bên tôi một chiều khi nắng phai rồi
Nắng (ư) ngừng bên chiếc cầu biên giới
Xa xa thoáng đàn trầm vô tư
Đâu đây dáng huyền bền duyên xưa

Bên cầu biên giới
Tôi lặng nghe dòng đời từ từ trôi
Sông nước xa xôi,
Mây núi khắp nơi
Không tỏ một đôi lời ...

Ôi giấc mơ qua
Mộng đời phiêu lãng giang hồ
Sống trong lòng người đẹp Tô Châu
Hay là chết bên bờ sông Da - nube
Những đêm sáng sao

Nhưng đường quá xa vời
Hương trời vẫn mê mãi
Lòng tôi sao vẫn còn biên giới!
Lòng tôi sao vẫn ngừng nơi đây
Ôi dòng tóc êm đềm!
Ôi bể mắt đắm chìm!
Đời phong sương cũ, chỉ là thương nhớ
Mộng bền năm xưa
Chỉ là mơ qua …


Còn về thơ nước ngoài, tôi thấy có nhiều bài rất hay về chiếc cầu , nhưng nếu phải chọn ra một bài, thì tôi sẽ không ngần ngại chỉ ra ngay. Vâng ! đó chính là bài thơ   Le Pont Mirabeau !  Một bài thơ ra đời cách đây đã  99 năm ( 1913 ), là bài thơ đã đưa tác giả của nó lên vị trí số 1 thời đó.

Le Pont Mirabeau là bài thơ nổi tiếng nhất của nhà thơ người Pháp, Guillaume Apollinaire. Và cũng là một trong những bài thơ Pháp được yêu thích nhất trên toàn thế giới. Điều đó khẳng định rằng : Le Pont Mirabeau là một bài thơ hay !

Ở Việt Nam, Le Pont Mirabeau cũng là một trong những bài thơ được dịch nhiều nhất. Nhìn vào nguyên tác thấy có vẻ “ dễ ăn ”, nhưng sự thực là Le Pont Mirabeau vô cùng thâm trầm và hàm súc.

Chính vì vậy, nên tới nay, Le Pont Mirabeau vẫn không có nhiều bản dịch hay. Một số khá nhiều những bản dịch có những câu dịch nghe khá lạ tai, thí dụ : Tháng ngày trôi, đây vẫn còn anh, hay là câu : Quá khứ và tình yêu quay trở lại không còn. Hoặc là những câu dịch quá khó hiểu, mà có lẽ nhóm Xuân Thu Nhã Tập khi xưa cũng phải kính nể đôi phần.

Tôi tạm dừng đây để giới thiệu một vài câu thơ của nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh trong nhóm đó :
    Quỳnh hoa chiều đọng nhạc trầm mi
                                                 Hồn xanh ngát chở dấu xiêm y
     Rượu hát bầu vàng cung ướp hương
                                                Ngón hường say tóc nhạc trầm mi
  
Tôi nghĩ chắc có nhiều độc giả phải buông lời cảm thán khi phải  “ đối diện ”với mấy câu thơ hiểu chết liền nêu trên.

Trở lại với bài thơ Le Pont Mirabeau, khi câu Des éternels regards l’onde si lasse, được dịch là : những đôi mắt đông kín với thời gian trôi trên dòng nước chậm , thì tôi nghĩ cũng không ít độc giả choáng váng trước tứ thơ mới lạ này. Tôi nghĩ Apollinaire muốn nói điều đơn giản hơn nhiều.

Bởi vậy, ở một góc độ nào đó, có thể nói rằng,ở Việt Nam, Le Pont Mirabeau vẫn đang là một thách thức, đang tiếp tục chờ đợi những người dịch mới, những bản dịch mới.

Nguyên tác bài thơ tiếng Pháp như sau :

Le Pont Mirabeau


Sous le pont Mirabeau coule la Seine
Et nos amours
Faut-il qu'il m'en souvienne
La joie venait toujours après la peine

Vienne la nuit sonne l'heure
Les jours s'en vont je demeure

Les mains dans les mains restons face à face
Tandis que sous
Le pont de nos bras passe
Des éternels regards l'onde si lasse

Vienne la nuit sonne l'heure
Les jours s'en vont je demeure

L'amour s'en va comme cette eau courante
L'amour s'en va
Comme la vie est lente
Et comme l'Espérance est violente

Vienne la nuit sonne l'heure
Les jours s'en vont je demeure

Passent les jours et passent les semaines
Ni temps passé
Ni les amours reviennent
Sous le pont Mirabeau coule la Seine

Vienne la nuit sonne l'heure
Les jours s'en vont je demeure

Guillaume Apollinaire

Hồi trung học, tôi và đám bạn mê bài này lắm. Tôi nhớ thầy Hòa dạy Pháp Văn giới thiệu cho chúng tôi bài này cùng với một số bài của Victor Hugo. Đọc thấy hay mà dịch nghe không suôn sẻ mấy. Thầy Hòa chỉ giải nghĩa thôi chứ thầy cũng không dịch trọn vẹn.

Hồi đó tôi có một người bạn làm gan dịch bài này đăng bích báo, một giáo sư chấm thi là thầy Nguyễn Khắc Trừng ( một người cậu họ của tôi, có lẽ là dịch giả Việt Nam đầu tiên dịch cuốn The Old Man And The Sea của  Ernest Hemingway ra tiếng Việt ), chấm tới bài dịch đó, gật đầu tấm tắc khen hay. Nhờ sự kiện này mà anh bạn kia trở nên nổi tiếng toàn trường. Đặc biệt được một số lượng lớn các nữ sinh yêu thơ hâm mộ, không thua gì hâm mộ diễn viên đẹp trai người Pháp Alain Delon, đang lẫy lừng thời đó. Bọn con trai, khối đứa nóng cả mặt nhưng mà dịch không lại nên đành chịu! 

Hồi xưa học tập rất khác, học khá, siêng năng và có chất lãng mạn. Hồi xưa hầu như học trò nào cũng có cuốn tập chép thơ, nhạc và danh ngôn. Mùa phượng nào cũng viết lưu bút. Kể cả dân ban Toán.Tôi nhớ mình có chép lại bài dịch đó, nhưng giờ tìm không ra. Còn người bạn kia nghe nói về miền Trung rồi không thấy quay lại nữa.

Thắm thoắt đã mấy mươi năm rồi ! Nhưng mà trái đất tròn, biết đâu ….Nhiều năm sau, tôi cũng sưu tầm được khá nhiều bản dịch Le Pont Mirabeau, trong đó có vài bản dịch tương đối phổ biến như bản dịch của Hoàng Hưng, Tế Hanh, Xuân Diệu…

Nhưng như trên đã nói, tôi chưa thực sự ưng ý với một bản dịch nào.Tôi nghĩ không phải là không có bản dịch tốt hơn nữa.Tôi nghĩ rằng, những bản dịch ấy còn nằm lẫn khuất ở đâu đó. Quý vị độc giả nếu có biết xin chỉ giúp.

Tuy nhiên, hôm nay, để vui chuyện với quý vị độc giả, tôi cũng xin khiêm tốn giới thiệu bài dịch của tôi, bài Cầu Mirabeau, dịch xong năm 2000, và có chỉnh lại chút ít vào cuối tháng 6/2012.


CẦU MIRABEAU
         
         Guillaume Apollinaire

Dưới cầu Mirabeau trôi dòng Seine
và tình ta nữa
buồn vui một thuở
sao quên

Đêm cứ tới giờ cứ điểm
ngày cứ qua tôi ở lại
      
Tay trong tay mắt trong mắt
và dưới chiếc cầu bắc qua những vòng tay
từng đợt sóng mệt nhoài
trôi đi trong mắt ta nhìn nhau thiên thu

Đêm cứ tới giờ cứ điểm
ngày cứ qua tôi ở lại

Tình yêu qua mất rồi như nước chảy  
tình yêu qua mất rồi 
cuộc  đời sao mà chậm 
Hy Vọng sao mà dữ dội

Đêm cứ tới giờ cứ điểm
ngày cứ qua tôi ở lại

Ngày qua rồi lại tuần qua 
mà thời gian không qua
mà những cuộc tình không trở lại
dưới cầu Mirabeau trôi dòng Seine  

Đêm cứ tới giờ cứ điểm 
ngày cứ qua tôi ở lại.


Le Pont Mirabeau – Guillaume Apollinaire
          Hoàng Anh Dũng dịch
             10/2000 &  10/ 2012  


BÌNH LUẬN ( chỉ có nghĩa là nói thêm một chút cho rõ ): như trên đã nói, bài dịch này tôi hoàn thành tháng 10 năm 2000, chính xác là ngày 7 tháng 10 năm 2000, tôi nhớ rõ ngày ấy vì đó là vào dịp giỗ thầy tôi, sau đó tôi chỉnh sửa chút ít vào tháng 6 năm 2012.Thế nhưng, như một sự tình cờ, ngày 5/10/2012 khi tôi gởi bài viết này cho Blog AV thì nữ chủ nhân cung cấp thêm cho tôi một số thông tin về bài thơ nói trên, một số bản dịch khác, và đặc biệt, một bản dịch của chính cô. 

Đúng là buồn ngủ gặp chiếu manh, bởi tuy bản dịch của tôi xong từ lâu nhưng tôi thấy vẫn còn một cái gì đó chưa trọn, và điều chưa trọn đó đã trọn hơn một chút sau khi tôi đọc xong các bài được gởi tới.Hai câu điệp khúc trong bài thơ :Vienne la nuit sonne l’heure / Le jours s’en vont je demeure, là khó nhằn nhất, nhưng có hai câu dịch này mà tôi cho là tín – đạt – nhã nhất trong tất cả các bản dịch mà tôi có được : Đêm thong thả đồng hồ gõ nhịp / Tháng ngày qua, còn đây mình tôi … xin đố các bạn hai câu này là của dịch giả nào ? 

Tôi cũng đặc biệt cám ơn hai tác giả Phạm Anh Tuấn và Hà Thủy đã có bài phân tích rất sâu về  bài thơ Le Pont Mirabeau, và về tác giả của nó, Guillaume Apollinaire. Tôi đọc xong và “ hốt nhiên ” ngộ ra nhiều điều. Vậy là bản dịch lại được chỉnh lần thứ ba, đúng vào ngày này 12 năm trước. Quý vị cũng thấy ,có một điểm đặc biệt trong bản dịch Tiếng Việt của tôi, cũng như trong nhiều bản dịch Tiếng Anh của các dịch giả khác : không đặt dấu chấm, dấu phẩy, bởi bản nguyên tác cũng vậy. Với lối này thì lối ngắt câu của các bạn đôi khi tạo ra cho câu thơ có ý nghĩa khác, rất bất ngờ. 

Tôi mượn một câu nói quảng cáo thường nghe trên TV  để kết thúc bình luận này : Hãy thử một lần xem sao ! Có thể bạn sẽ thích đấy ! 

HOÀNG ANH DŨNG      

Thứ Bảy, ngày 06 tháng 10 năm 2012

Những dòng sông, những cây cầu và những cuộc chia ly

Tôi chẳng hiểu tại sao mình lại yêu những dòng sông đến thế. Mặc dù tuổi thơ của tôi chẳng gắn với một dòng sông nào để có thể gọi là dòng sông tuổi thơ, và suốt cả cuộc đời cũng chẳng sống gần một dòng sông hay thậm chí chỉ là một con rạch nào.

Ngược lại, thời nhỏ tôi có sống gần biển một thời gian, ở Phan Thiết, cho đến khi gia đình tôi dọn vào Sài Gòn lúc tôi 5 tuổi. Nhưng những năm gắn bó với miền biển hồi ấy lại chẳng để lại cho tôi ấn tượng thân thương gì cả. Chỉ thấy biển hoàn toàn xa lạ và quá dữ dội, đáng sợ.

Tôi vẫn còn nhớ lúc còn bé, bố tôi hay dẫn tôi ra bờ biển chơi, nhưng tôi chỉ ở trên bờ chứ không bao giờ dám xuống nước. Tôi sợ những con sóng cứ ập đến rồi lại cuốn ra, sợ nước biển mặn chát khi bị sặc nước, và cũng rất sợ biển nước khổng lồ màu xanh xám và mênh mông tít tắp không bờ bến. 

Lần đầu tiên tôi tự mình cảm nhận một dòng sông thực sự là năm tôi 18 tuổi, trên chiếc phà qua bắc Mỹ Thuận để về miền Tây, qua dòng sông Cửu Long mênh mông, lúc ấy khoảng 5 giờ chiều. Dòng sông thật êm, mặt sông cũng rộng mênh mông nhưng cho tôi một cảm giác êm đềm chứ không hề đe dọa như mặt biển  đối với tôi ngày còn bé. Lúc ấy là trời chiều, xa xa có những đám khói tỏa ra từ những túp nhà be bé, mặt trời chiều còn vương ít sợi nắng, mây chiều pha ráng đỏ ... Một cảnh tượng đối với tôi sao đẹp tuyệt vời, và thực sự làm tôi xúc động. 

Xúc động đến độ tôi đã thốt ra được mấy câu thơ - và sau đó được viết thành nguyên một bài, nhưng giờ thì chỉ còn nhớ láp nháp vài câu - như sau:

"Chiều buông trên dòng sông Cửu Long"
Nghe câu hát từ bao lâu thân thiết
Dòng sông xanh lần đầu ta biết
Vời vợi chiều về trên sông ...

Chiều ơi chiều về chiều buông trên dòng sông
Êm êm trôi dòng nước biếc
Cánh buồm ai lẻ chiếc
Chập chùng trôi trên sông bao la ...

...

 Chầm chậm trôi thời gian, ôi thời gian
Trên dòng sông mênh mang...

Đọc lại mấy câu này bây giờ tôi thấy mình viết hơi "sáo", nhưng quả thật lúc ấy tôi có cảm giác vô cùng xúc động, chẳng rõ tại sao. Chợt nghĩ, phải chăng tình cảm mà tôi dành cho những con sông dù chẳng có gì gắn bó thực sự với chúng, có lẽ chính là vì văn thơ nhạc họa của VN cũng như của thế giới dành quá nhiều thiện cảm cho chúng đó chăng. 

Thì rõ ràng câu đầu tiên trong bài thơ của tôi chính là được lấy trong bài hát "Chiều về trên sông" của Phạm Duy chứ còn gì nữa. Một bài hát thật hay mà ca sĩ Thái Thanh đã trình bày hết sức xuất sắc, với những ca từ thật đẹp. Xin chép ra đây vài câu để các bạn thưởng thức nhé. Còn bạn nào muốn nghe bài hát và lời đầy đủ, xin vào đây: http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=0kJ14qRMTT.

Chiều buông
Trên dòng sông Cửu Long
Như một cơn ước mong
Ơi chiều

Về đâu
Ơi hàng cây gõ rong
...

Chiều buông 
Trên dòng sông cuốn mau
Thương đời thương lẫn nhau trong chiều

Về đây 
Bọt bèo vương khắp nơi
Vui buồn cho có đôi
Không nhiều

Ngày mai sông về quê mến yêu
Cho trùng dương cũng theo hương chiều
Bể sầu không nhiều
Nhưng 
cũng
đủ 
yêu ...

Nói đến sông, thì rõ ràng không thể không nhắc đến cầu, như một cặp đôi không thể thiếu. Vì không có nó thì người ở hai bên bờ không thể qua lại được dễ dàng, và sẽ rơi vào tình trạng hai đầu cách trở. Dòng sông Cửu Long - mà ở miền Tây ta thường nhắc đến nó theo từng nhánh Sông Tiền và Sông Hậu vào lúc ấy - năm 1978 - thì chưa có cầu, còn phải đi phà. Những chiếc phà nặng nề, già cỗi, chăm chỉ làm phận sự như những con ngựa thồ già, cặm cụi đóng vai chiếc cầu di động ngày ngày nối hai bên bờ ngăn cách. Suốt cả trăm năm, hình như thế, chúng đã tròn vai, và nhiệm vụ lịch sử của chúng đã kết thúc khi cây cầu Mỹ  Thuận được khánh thành năm 2000.

"Cây cầu của tình hữu nghị", cây cầu ấy được gọi như vậy vì nó là do Úc viện trợ cho VN. Tôi nhớ năm đó tôi còn ở Khoa Anh Trường ĐH KHXH-NV, lúc ấy có ông thầy hướng dẫn ở Úc đang ở VN, sang dạy chương trình cao học thì sự kiện thông xe cầu Mỹ  Thuận diễn ra. Thế là ông cũng lặn lội đi xuống đó xem, rất thích thú, như một sự kiện lớn đánh dấu quan hệ hai nước. Và mãi mấy năm sau, khi đi qua cây cầu ấy trong một chuyến công tác miền Tây, ông "sếp" của tôi vẫn còn quay phim, chụp hình cây cầu ấy, như một kỳ quan nho nhỏ của VN.

Trong văn học nghệ thuật của VN, cây cầu cũng có một vai trò quan trọng. Có một bài hát mà tôi rất thích - và người bạn thơ chưa biết mặt của tôi cũng thế; việc này sẽ rõ hơn trong entry sau - là bài Bên cầu biên giới của Phạm Duy. Phần mà tôi thích nhất trong bài hát là mấy câu này:

Nhưng đường quá xa vời
Hương trời vẫn mê mải
Lòng tôi sao vẫn còn biên giới
Hồn tôi sao vẫn dừng nơi đây ...

Dòng nhạc đỏ, nhạc "cách mạng" của VN cũng có một bài hát về cây cầu mà tôi cũng rất thích, mặc dù bài này không buồn buồn như gu của tôi (một cái gu rất "tiểu tư sản"), mà reo vui, lạc quan "cách mạng", đó là bài "Nhịp cầu nối những bờ vui", có thể tìm thấy ở đây: http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=SQerQnppB_

Câu đầu tiên của bài hát này, có lẽ cũng là câu hay nhất (và hay duy nhất?) của câu này, hoặc ít ra là câu mà tôi thích nhất, là câu:

Chiếc cầu là nơi hò hẹn của đôi ta. Đêm trăng sáng trên cầu anh thổi sáo, đêm trăng sáng chân cầu em giặt áo. Nhịp cầu nối những bờ vui ....

Hay, vì nó đụng chạm đến tình cảm mang tính phổ quát nhất của nhân loại, không phân biệt tiểu tư sản với vô sản, cách mạng với ... phản cách mạng, đó là tình yêu đôi lứa. Hẹn hò. Gặp gỡ. Nhịp cầu nối những bờ vui....

Kết nối. Rồi gặp gỡ, hò hẹn. Và kết cuộc có thể sẽ rất vui, như bài hát cách mạng ấy: "Anh lại về đây sau ngàn ngày chiến đấu (!)/Ngồi trên cầu thổi sáo đón em".

Nhưng, cuộc đời mà, không phải mọi việc đều có kết cục vui. Mà, theo cái nhìn ủy mị tiểu tư sản của những đứa như tôi, thì kết cục sẽ thiên về sự xa cách, chia ly nhiều hơn. Và những cây cầu, vốn là biểu tượng cho sự hẹn hò gặp gỡ của hai kẻ yêu nhau khi cuộc tình chưa chấm dứt, lại trở thành một vật gợi những nhớ nhung, day dứt, muộn phiền....

Như trong bài thơ bất hủ của Apollinaire, bài Le Pont Mirabeau (cầu Mirabeau), mà tôi cũng đã có lần bon chen dịch ra tiếng Việt vì thích quá, không nhịn được. Bản dịch của tôi là dựa trên bản tiếng Anh, đã đăng trên blog này vào năm 2010 sau khi dịch xong, xin chép lại ở đây. (Bản dịch gốc, và lời dẫn thì ở đây: http://bloganhvu.blogspot.com/2010/11/thang-ngay-qua-con-ay-minh-toi.html.)

 Tôi đã đặt cho bài thơ một cái tựa khác, lấy từ trong một câu điệp khúc của bài thơ: "Tháng ngày qua, còn đây mình tôi"

Sông trôi dưới cầu Mirabeau
Người xa trên cầu Mirabeau
Ai có quên cho tôi nhắc nhớ
Đớn đau rồi sẽ được yên vui

Đêm thong thả đồng hồ gõ nhịp
Tháng ngày qua, còn đây mình tôi

Em bên anh ta tay trong tay
Dưới chân cầu dòng sông lặng trôi
Hờ hững nhìn, những con mắt sóng
Nụ hôn kia rồi mai tàn phai

Đêm thong thả đồng hồ gõ nhịp
Tháng ngày qua, còn đây mình tôi

Dòng sông trôi, tình ta cũng trôi
Tình trôi đi, còn đây mình tôi
Đời mệt nhoài, tình xa vời vợi
Dữ dội chi tiếng sóng lòng ơi!

Đêm thong thả đồng hồ gõ nhịp
Tháng ngày qua, còn đây mình tôi

Ngày ngày qua và tuần tuần qua
Thời gian qua không buồn trở lại
Tình yêu qua thôi đành vuột mất
Dòng sông xưa mãi lững lờ trôi

Đêm thong thả đồng hồ gõ nhịp
Tháng ngày qua, còn đây mình tôi ...

Nếu có ai đọc entry trước của tôi, "Thơ dịch, dịch thơ" thì sẽ thấy tôi thuộc trường phái dịch ... ẩu, dịch theo ý mình, miễn sao mình thấy hay, thấy đẹp, chứ không câu nệ dịch sát từng câu, từng từ của tác giả. Dịch như thế, có thể sẽ có nhiều người không đồng ý, nếu người ấy thuộc trường phái dịch trung thành ("tín" là yêu cầu trên hết). Nhưng kệ nó, tôi dịch cho tôi thôi mà, và, vì tôi là tôi, nên tôi thấy bài thơ tôi dịch ra cũng ... rất được, vì hợp ý tôi (!!!).

Lúc dịch bài thơ ấy, một người bạn (tôi hay gọi đùa là "bạn già") của tôi vừa chia tay với chồng chị ấy, và đang rất buồn. Nỗi buồn ấy rất thật, rất rõ ràng, nhưng cũng rất riêng tư, và mỗi khi nghe về chuyện buồn của người khác thì thực sự tôi không thể nào chịu nổi. Vì tôi rất muốn làm một cái gì đó, nhưng lại không biết phải làm gì. Vì an ủi thì nghe nó giả dối - phải chăng người ta có thể dễ dàng vơi đi một nỗi buồn chỉ sau khi nghe vài lời an ủi của mình, nhất là khi mình thực ra cũng không thể cảm nhận nổi mức độ trầm trọng của nỗi đau của người đang chịu nỗi đau ấy? Nhưng không nói gì, không làm gì thì lại có vẻ lạnh lùng, thản nhiên, mà thực ra không phải thế.

Vì vậy, khi chị ấy kể cho tôi, thì tôi chỉ hỏi những câu hỏi rất lý trí, rất ... factual, đại loại như "ông D. đã nói gì?", "ổng phản ứng ra sao?", "rồi chị làm gì?", mà không thốt ra được câu an ủi nào cho ra hồn hết. Nhưng câu chuyện ấy, và nỗi buồn ấy cứ theo tôi suốt mấy ngày.

Nên khi đọc thơ, thấy tâm trạng của một người mới chia tay người yêu, nhìn đâu cũng thấy kỷ niệm, nhìn đâu cũng đau đớn (như tâm trạng trong một câu hát hình như là trong bài hát của Phạm Duy: "khi rượu uống không hề say/mà chỉ là đắng cay"), thì tôi bỗng ... xuất thần dịch ra được bài thơ như trên. Nói một cách nào đó (như có nhiều người đã nói), tôi lấy bài thơ của tác giả làm một cái cớ để thả tâm sự của tôi (nói đúng hơn là của bạn tôi) vào đấy.

Viết xong, đăng lên blog, rồi gửi cho người bạn già, rồi quên mất. Cho đến khi tôi nhận được bài thơ dịch rất kỹ lưỡng, cẩn trọng của người bạn thơ của tôi. Tôi nhớ ra mình cũng đã dịch nên ... đỡ quá, đây là dịp để khoe bản dịch của mình (thực ra là để chia sẻ một điều mình thích). Được chia sẻ điều mình thích đã là một niềm vui tự nó, thế mà tôi còn lại còn được khen nữa chứ. Mà khen đúng ngay  2 câu điệp khúc mà tôi rất thích ấy: "Đêm thong thả đồng hồ gõ nhịp/Tháng ngày qua, còn đây mình tôi".

Hai câu ấy, tôi tin rằng nó thật đúng tâm trạng của người bạn tôi lúc ấy. Cho nên bài thơ có hay, và bản dịch có hay (nếu có ai nghĩ thế) thì trước hết là vì nó chạm vào đúng tâm trạng của người ta. Chạm vào nỗi đau của sự chia ly, và nỗi buồn da diết dù lặng lẽ của việc trải qua những ngày dài mà không có tình yêu của mình ở bên cạnh. Nỗi buồn ly biệt.

Tôi chợt nhớ đến một bài hát khác, cũng có sông, có biệt ly, có cả tiếng còi tàu:

Biệt ly
Sóng trên dòng sông
Ôi còi tàu như xé đôi lòng
Và mây trôi, nước trôi 
Ngày tháng trôi ...

Vâng, những dòng sông, những cây cầu, và những cuộc chia ly .... Nên không lạ là tại sao tôi lại thích sông đến thế. À, nhắc đến sông, tôi lại nhớ tác phẩm mới của Nguyễn Ngọc Tư có đúng cái tên ấy: Sông. Thế nào tôi cũng phải đi mua về mà đọc mới được.

Còn bản dịch rất hay của người bạn thơ của tôi, cùng lời dẫn của anh bạn ấy, và cả những bản dịch khác của bài thơ Le Pont Mirabeau nữa, tôi sẽ đăng lên trên entry sau. Các bạn chờ và đọc nhé. Vì entry này đã quá dài rồi, đọc nữa thì loãng mất.
------
Viết thêm: Phải ghi chú thêm mấy dòng nữa cho hết ý. Bài thơ dịch tôi, nếu có ai chú ý sẽ thấy có rất nhiều vần bằng. Tôi cố tình như thế, vì vần bằng trong thơ sẽ gợi lên nỗi sầu man mác, âm thầm nhưng sâu sắc. Như khi quá đau thì ta không kêu lên được nữa, mà lặng đi. Câu thơ nhiều vần bằng là một thủ pháp mà một nhà thơ tiền chiến là Xuân Diệu hình như cũng hay sử dụng, như trong mấy câu này:

Tôi yêu Bao Tự mặt sầu bi
Tôi mê Ly Cơ hình nhịp nhàng
Tôi tưởng tôi là Đường Minh Hoàng
Trong cung nhớ nàng Dương Quý Phi.

(Trong tất cả các câu trên, trong 7 chữ chỉ có 1 hoặc 2 chữ có vần bằng thôi. Nghe buồn buồn, trầm trầm, hay lắm phải không các bạn?)

Thơ dịch, dịch thơ ...

Tôi lại mới nhận được một bài thơ dịch của người bạn mới quen, anh Hoàng Anh Dũng (HAD) mà tới nay tôi đã giới thiệu vài bài thơ trên blog này của tôi rồi. Một bài thơ rất nổi tiếng (nhưng tôi sẽ nói đến nó sau) mà rất tình cờ là bài ấy tôi cũng đã từng dịch.

Đọc bản dịch của anh HAD, rồi lại lên mạng tìm những bản dịch khác của cùng bài thơ ấy, tự nhiên tôi lại suy nghĩ lan man về việc dich và đặc biệt là dịch thơ, là việc tôi đã đeo đuổi một thời gian dài khi còn ở Khoa Anh của ĐH Tổng hợp, nay là ĐHKHXH-NV. Nên viết lăng nhăng ở đây một ít giòng trước khi giới thiệu bài thơ vô cùng nổi tiếng kia cùng những bản dịch khác nhau ở VN.

Đã có nhiều người đã cho rằng dịch chính  là phản. Có lẽ không sai, vì đã có khá nhiều ví dụ về bản dịch làm thay đổi ý nghĩa của nguyên tác, thậm chí làm sai ý gốc hoàn toàn. Một ví dụ kinh điển và rất thú vị của việc "dịch là phản" rất hay được nhắc đến là một câu dịch Kinh Thánh do máy dịch (phản) như sau:

Nghĩa của câu gốc: "The spirit is willing, but the flesh is weak." (Tinh thần thì vững vàng nhưng thể xác thì yếu đuối.)
Câu dịch (phản): "The vodka is good, but the meat is rotten." (Rượu thì ngon nhưng thịt thì thối.)

Thật là thú vị, phải không các bạn? Thật đúng là ... "Dịch nhau như thế bằng mười hại nhau", các bạn nhỉ?

Vì dịch rất dễ trở thành phản nên một trong những nguyên tắc đầu tiên của việc dịch là phải bám sát bản gốc và trung thành với nguyên tác, mà người ta thường gọi là "tín" trong 3 nguyên tắc của dịch. Hai nguyên tắc còn lại là "đạt" và "nhã". Tín là trung thành, đạt là ngôn ngữ đích viết ra phải làm cho người ta hiểu được (vì nếu dịch quá trung thành thì rất có thể trở thành ngây ngô hoặc bí hiểm, người đọc không hiểu nổi), và nhã tức là đẹp - như trong cụm từ tao nhã, thanh nhã, nhã nhặn.

Nếu đạt được cả 3 nguyên tắc trên thì rõ ràng là không còn gì để nói nữa. Nhưng cũng rõ ràng là thực sự quá khó để đạt cả 3 yếu tố trên phải không các bạn? Thường thì người ta chỉ đạt được một hoặc cùng lắm là 2 trong số 3 nguyên tắc nói trên mà thôi. Và mỗi dịch giả  thường sẽ phải chọn cho mình nguyên tắc nào là tối cần thiết và nguyên tắc nào có thể bỏ qua không cần phải giữ bằng mọi giá.

Vậy nên mới có đến hai trường phái dịch. Trường phái thứ nhất xem tín là yếu tố quan trọng nhất trong một bản dịch, và họ thường cố gắng đạt được chữ "tín", rồi sau đó là chữ "đạt". Còn nhã thì có thể bỏ qua. Trường phái thứ hai lấy yếu tố "nhã" làm quan trọng nhất. Mà đã nhã, thì chắc chắn là phải đạt rồi, vì nếu không làm cho người ta hiểu được thì khó lòng được xem là nhã. Còn tín thì không phải là không quan trọng, nhưng ở đây người ta quan niệm tín theo một cách khác. Không phải là trung thành với lời văn, với cấu trúc câu, với hình thức diễn đạt, mà là trung thành với ý tứ của bài viết và tạo ra được một cảm xúc tương tự với bản gốc trên người đọc. Tất nhiên, làm thế nào để đo được độ trung thành về ý tứ hoặc cảm xúc của người đọc thì lại là một chuyện khác.

Nhưng nói như trên lại cũng chưa phải là hoàn toàn chính xác, vì có những người lúc thì thuộc trường phái này lúc lại thuộc trường phái khác. Có lẽ điều đó còn tùy vào từng nội dung, từng thể loại của bài viết, và cả cảm hứng và tâm trạng của dịch giả nữa. Tôi nghĩ, riêng đối với dịch thơ thì tâm trạng và cảm hứng có lẽ là điều quan trọng nhất để tạo ra một bản dịch tốt, tức là đạt đến mức nhã trong 3 nguyên tắc dịch thuật rồi. Đã là tâm trạng và cảm xúc rồi thì ta chỉ có thể đồng cảm hoặc không đồng cảm, xúc động hay không xúc động, chứ ít khi quan tâm bắt bẻ là bài thơ dịch là chính xác hay không chính xác.

Thôi, tản mạn về dịch thế là đủ. Bây giờ, xin nói he hé một chút về bài thơ dịch mà tôi đã đề cập đến ở trên. Đó chính là bài thơ Le Pont Mirabeau của nhà thơ Apollinaire. Một bài thơ rất hay mà tôi mới dịch từ bản tiếng Anh sang tiếng Việt và đã đăng trên blog này cách đây 2 năm, vào năm 2010, khi còn làm việc ở cơ quan cũ.

Tôi dịch nó một mạch trong một buổi họp ở cơ quan, đăng lên blog rồi quên đi. Nhưng khi người bạn của tôi gửi cho tôi bài thơ anh ấy dịch thì tôi mới nhớ ra bài thơ của mình, đồng thời biết rằng bài thơ ấy đã có rất nhiều người dịch từ nhiều năm nay. Nhưng hình như vẫn chưa có ai hoàn toàn hài lòng, và cuộc đi tìm bài thơ dịch hay nhất vẫn còn tiếp tục. Trong cuộc hành trình ấy, có cả anh bạn HAD của tôi nữa.

Và dường như anh ấy đã gần chạm được đến bản dịch hoàn hảo rồi, tôi nghĩ thế. Nhưng entry đã dài lắm rồi, tôi sẽ từ từ giới thiệu bài thơ của anh HAD cùng lời bình của chính anh ấy vào kỳ tới nhé. Sorry vì bắt mọi người phải đợi, nhưng bảo dảm là mọi người sẽ có một bài đọc thú vị.

Còn bây giờ thì mọi người đọc tạm bài viết của anh Phạm Anh Tuấn, một dịch giả cũng có tiếng ở VN, viết về bài thơ này nhé. Ở đây: http://phamanhtuanhn.wordpress.com/2011/08/19/d%C6%B0%E1%BB%9Bi-chan-c%E1%BA%A7u-mirabeau/.