Thứ Bảy, ngày 29 tháng 12 năm 2012

Thơ Thứ Bảy, hay Bài thơ về cuốn sổ hưu (chép lại từ blog của GNLT)

Hôm nay cũng là Thứ Bảy, ngày mà tôi thong thả hơn một chút để đọc Đông, đọc Tây, đọc tất cả (học theo câu thơ của Nguyễn Vỹ: chửi Đông, chửi Tây, chửi tất cả).

Và tình cờ tìm được Chùm thơ Thứ Bảy, trong đó có một bài tôi thấy rất thích, nên chép lại đây để lưu và chia sẻ với mọi người.

Ai muốn vào trang của Giang Nam Lãng Tử thì vào đây nhé: http://giangnamlangtu.wordpress.com/2012/12/21/chum-tho-thu-bay/#more-4922.
-------------
SỔ HƯU!
(Thay lời Phó giáo sư nhà giáo ưu tú Trần Đăng Thanh)
Đất nước là gì? Là cái sổ hưu!
Ai có sổ hưu thì yêu đất nước
Bảy mươi triệu nông dân cần đếch gì Tổ quốc
Vì cuộc đời họ có sổ hưu đâu.

Tiến sĩ sổ hưu! Đọc! Học làm chi?
Cục cứt!

Văn chương sổ hưu! Viết gì?
Bồi bút!

Lý tưởng sổ hưu! Đồng minh? Kẻ thù?
Chẳng gì vĩnh viễn
Chỉ sổ hưu là vĩnh viễn mà thôi.

Vì sổ hưu, Ca hót Đ. trọn đời.
Hà nội 21-12-2012
N.T.D.

Thứ Ba, ngày 25 tháng 12 năm 2012

Lại một Noel nữa ...

Chụp ở hang đá của nhà dân gần Xứ Thánh Tịnh
Lại một Noel nữa/mấy mùa Giáng Sinh rồi/anh ở đồn biên giới/thương về một khung trời ...

Quay qua quay lại, một năm nữa đã hết, một Noel nữa đã lại đến rồi. Như vậy là đã 37 mùa Giáng sinh rồi đó, kể từ năm 1975, năm đầu tiên "giải phóng".

Tôi đã không định viết gì cho Noel năm nay, vì không hiểu sao tôi thấy không khí năm nay buồn buồn, không có gì là háo hức. Gần đến ngày Noel thì tự nhiên gặp phải một tin ... tức mình, đó là bài giảng của ông đại tá Trần Đăng Thanh trong đó nhắc nhở mọi người dân VN là phải không được "vong ân bội nghĩa" với TQ vì nó đã từng "nhường cơm xẻ áo" cho mình. Tình hình kinh tế thì không có gì đáng phấn khởi, nhiều doanh nghiệp bị đóng cửa, công nhân mất việc .... Không những thế, năm nay đêm Noel lại  rơi vào thứ hai, ban ngày vẫn phải đi làm, lại là đầu tuần nữa chứ, nên chẳng ai có nhiều thì giờ và tâm trí đâu mà lo lễ Noel.

Nhưng rồi ngày 24/12 vẫn đến. Buổi chiều đi làm về, đi ngang khu có nhiều nhà thờ ở Gò Vấp và Bình Thạnh vẫn thấy có chút không khí Giáng Sinh, dù là Giáng Sinh nghèo. Một "ông già Noel" trẻ măng với thân hình gày gò trên chiếc xe gắn máy cà tàng vội vã lao đi với món quà trong tay để kịp giao món quà đến một cô bé hay cậu bé nào đó đi học về. Các cửa hàng thú nhồi bông cũng khá đông người chen chúc, các bà mẹ, ông bố đang chọn mua mấy món quà để kịp đem về giấu ở đâu đó trong nhà để tạo ra một niềm vui nho nhỏ cho con mình khi ngủ dậy vào buổi sáng. Dù sao đi nữa, Noel vẫn cứ là một ngày lễ quan trọng, "không chỉ cho người Công giáo" như một blogger nào đó đã nói.

Ừ thì thôi viết mấy dòng, ghi lại chút không khí của Noel 2012 vậy. Vẫn là Giáng sinh ở xóm nghèo thôi.


Thiệp do con gái làm

Cây thông, hang đá và ngôi sao dẫn đường tại nhà thờ Bác Ái gần nhà tôi



Kinh tế có khó khăn thì Noel vẫn phải cứ phải đèn nến tưng bừng
\



Và cuối cùng là những lời cầu chúc cho mùa Giáng Sinh năm nay, lấy từ bài hát Niềm tin mà tựa của nó tôi đã dùng đặt cho entry này:

Cùng cầu cho thế giới/cho nhân loại hòa bình/cho chúng ta gặp lại/trong một mùa Giáng Sinh ....
---

Thứ Sáu, ngày 21 tháng 12 năm 2012

Câu hỏi gửi Đại tá Trần Đăng Thanh

Mấy ngày qua, qua thông tin trên mạng (facebook, blog) tôi được biết đến bài nói chuyện của ông Trần Đăng Thanh về tình hình thời sự của Việt Nam, có liên quan đến Mỹ, Trung Quốc và Biển Đông. Mặc dù chỉ là mạng xã hội và truyền thông lề trái, nhưng tôi cho rằng thông tin họ đưa về ông là rất có trách nhiệm: tên tuổi, học hàm học vị của ông được ghi đầy đủ, rồi còn có cả ngày giờ, địa điểm mà ông nói chuyện, rồi còn cả đối tượng nghe bài nói chuyện của ông nữa. Nội dung bài nói chuyện của ông thì được đưa lên với cả băng ghi âm và phần gỡ băng, chỗ nào nghe không rõ thì ghi là nghe không rõ chứ không đoán đại.

Tóm lại, tôi tin rằng thông tin mà tôi nhận được là chính xác. Nhưng chính vì vậy mà tôi băn khoăn. Tôi băn khoăn là vì sau khi đọc xong bài nói chuyện rất dài của ông, tôi thấy rất thắc mắc về nhiều điều. Thường thì những thắc mắc như vậy, vốn có liên quan đến hiện tình đất nước trong bối cảnh thế giới, thì tôi ít khi hỏi ai mà giữ trong bụng để mình tự tìm hiểu dần dần.

Tuy nhiên, suy đi nghĩ lại tôi thấy mục đích của bài báo cáo của ông là làm cho mọi người thông về việc biển Đông và không đi biểu tình chống TQ nữa. Ông kêu gọi mọi người, đặc biệt là sinh viên các trường đại học và các thầy cô của họ, hãy hoàn toàn tin tưởng vào Đảng và Nhà nước và giao phó toàn bộ vấn đề biển Đông (cũng như các vấn đề lớn nhỏ khác liên quan đến quốc gia, dân tộc) cho Đảng và NN lo; nói cách khác, Đảng và NN thấy cần củng cố niềm tin của người dân nên mới yêu cầu ông đi báo cáo cho lãnh đạo các trường đại học nghe. Mà tôi thì tôi vẫn chưa thực sự thông với điều này, vì TQ ngày càng ngang nhiên hoành hành ngoài biển Đông mà các động thái của nhà nước ta vẫn chưa thực sự rõ ràng.

Vì vậy, tôi nghĩ rằng đây là lúc tôi cần gửi thư đến ông để giải tỏa những thắc mắc lâu nay. Tôi chỉ xin đặt đúng một câu hỏi, mong được ông giải đáp.

Theo tôi hiểu, báo cáo của ông thể hiện quan điểm chính thức của Đảng và NN về quan hệ giữa VN với TQ và Mỹ. Theo đó, Trung Quốc đã từng xâm lược ta, nhưng mặt khác nó cũng đã từng "nhường cơm xẻ áo" cho ta, nên ta không được "vong ân bội nghĩa". Còn Mỹ thì chắc chắn là kẻ thù, cũng đã từng xâm lược ta, bây giờ dù nó có bênh vực các nước ASEAN trong chuyện biển Đông (trong đó có VN) và phản đối đường lưỡi bò khốn kiếp của TQ thì chẳng qua cũng chỉ vì lợi ích của chính nước Mỹ thôi, chứ nó chẳng bao giờ tốt với ta cả. "Tội ác của họ trời không dung đất không tha". (Các từ trong ngoặc kép đều trích nguyên văn bài của ông).

Tôi đã đọc đi đọc lại bài báo cáo rất dài của ông và nhận thấy chỉ có thể hiểu thông điệp của ông - cũng là quan điểm chính thức của Đảng và NN (?) - về hai nước TQ và Mỹ như sau: TQ dù có từng xâm lược ta nhưng dù sao thì ta cũng đã nhận giúp đỡ của nó nên ta không (= không bao giờ?)  được "vong ân bội nghĩa", còn Mỹ thì cũng đã từng xâm lược ta, cho nên bây giờ hoặc trong tương lai dù Mỹ có giúp đỡ ta thì ta vẫn cứ (vĩnh viễn?) căm thù nó, căm thù những "tội ác trời không dung đất không tha" của nó.

Nếu tôi đã hiểu đúng thông điệp mà ông muốn chia sẻ trong buổi báo cáo thì xin cho tôi đặt một tình huống giả định (nhưng hoàn toàn có khả năng xảy ra trong tình hình hiện nay) như sau:  Giả dụ TQ đánh chiếm ta như thời năm 1979 (thực ra thì nó đã và đang làm đối với biển của ta), chẳng rõ vì lợi ích của ai nhưng chắc chắn không phải vì lợi ích của ta rồi (!), còn Mỹ thì sẵn sàng giúp ta chống lại TQ, hẳn là vì chính lợi ích của nó (!) nhưng dù sao thì nó cũng giúp ta chống lại kẻ thù xâm lược trực tiếp trong tình huống giả định đó, tức là ta cũng được lợi.

Trong tình huống (giả định) ấy thì chúng ta sẽ chọn cái gì đây: Chơi với Mỹ để bảo vệ lợi ích dân tộc (dù lòng căm thù Mỹ hẳn là vẫn còn), hay vẫn tiếp tục quan hệ trong thế nhượng bộ, lùi dần từng bước với TQ (là điều mà tôi có cảm tưởng lâu nay đang diễn ra tại VN) để thể hiện sự "biết ơn, không thể vong ân bội nghĩa" với "anh bạn" 16 vàng 4 tốt này?

Tôi hy vọng là câu hỏi của tôi đủ rõ ràng để nhận được một câu trả lời dứt khoát rằng VN sẽ chọn cái gì trong tình huống giả định đó. Còn nếu ông thấy câu hỏi này quá khó trả lời vì tình hình thế giới và các quan hệ ngoại giao của VN với các nước là quá phức tạp, thì tôi e rằng tôi sẽ không thể yên tâm với câu trấn an quen thuộc rằng mọi việc "đã có Đảng và NN lo".

Vì liệu Đảng và NN có lo được không, khi quan điểm về bạn thù của Đảng và NN ta là như ông đại tá đã nêu ra trong báo cáo - tất nhiên, giả định rằng tôi đã hiểu đúng thông điệp của báo cáo?

Thứ Hai, ngày 10 tháng 12 năm 2012

"Lòng ta là những hàng thành quách cũ ..."

Tình cờ đọc lại được câu thơ này trên facebook của một người học trò cũ. Chợt nhớ lại, nhớ đến tê tái, một bài thơ của Ông đồ Vũ Đình Liên mà tôi đã đọc từ hồi bé trước năm 1975.

Nói thêm, tôi luôn cảm thấy có một cái gì đó thân thương và gắn bó với nhà thơ Vũ Đình Liên, là người cùng họ, cùng chữ lót với cha tôi mà tôi vẫn tự nhủ hẳn phải là bà con xa với mình.

Xin chép lại bài thơ ấy ở đây cho chính tôi, và cho những người bạn đọc blog này, những người mà tôi tin rằng có một chút gì đó đồng cảm với tôi.

Nhớ ngày xưa quá đỗi, nhớ da diết và tê tái.

Lòng ta là những hàng thành quách cũ
(Vũ Đình Liên)

Dậy đi thôi con thuyền nằm dưới bến,
Vì đêm nay ta lại căng buồm đi
Mái chèo mơ để bâng khuâng trôi đến
Một phương trời mây lọc bóng trăng khuya

Gió không thổi, nước sông trôi giá lạnh
Thuyền đi trong bóng tối lũy thành xưa
Trên chòi cao, từ ngàn năm sực tỉnh
Trong trăng khuya bỗng vẳng tiếng loa mơ

Từ ngàn năm cả hồn xưa sực tỉnh
Tiếng loa vang giây lát động trăng khuya
Nhưng giây lát lại rơi im hiu quạnh
Cả hồn xưa im lặng trong trăng khuya

Trôi đi thuyền! cứ trôi đi xa nữa
Vỗ trăng khuya bơi mãi! cánh chèo mơ
Lòng ta là những hàng thành quách cũ
Từ ngàn năm bỗng vẳng tiếng loa xưa.


----
Cập nhật ngày 11/12/2012

Tôi nhận được comment của một bạn đọc blog có tên là levinhhuy với những góp ý rất hay, rất sâu sắc dưới đây, nên đăng lại nguyên văn ở đây để mọi người cùng đọc (vì không phải ai cũng có thói quen đọc comment). Các bạn đọc phần in nghiêng dưới đây nhé, chữ màu xanh là của nhà thơ Vũ Đình Liên, chữ màu đen là của levinhhuy.
------

Lúc nhỏ tôi cũng học thuộc lòng bài này trong Thi Nhân Việt Nam của Hoài Thanh & Hoài Chân, nếu tôi nhớ không lầm thì chữ mơ trong “mái chèo mơ” được viết hoa; “mây lọc lóng trăng khuya” chứ không phải “bóng trăng khuya”, và “Tự ngàn năm” chứ không phải “Từ ngàn năm”… Tuy chỉ là đôi chữ thôi, nhưng ảnh hưởng lớn đến âm hưởng cùng hình ảnh được gợi lên trong bài thơ. Xin chép lại theo bản được trích trong Thi Nhân Việt Nam (Nxb Hoa Tiên, tái bản lần 2, SG 1968), có cả chú thích của chính Vũ Đình Liên.

Lòng ta là những hàng thành quách cũ(1)

Dậy đi thôi con thuyền nằm dưới bến,
Vì đêm nay ta lại căng buồm đi.
Mái chèo Mơ để bâng khuâng trôi đến
Một phương trời mây lọc lóng trăng khuya.

Gió không thổi, nước sông trôi giá lạnh,
Thuyền đi trong bóng tối lũy thành xưa.(2)
Trên chòi cao, tự ngàn năm sực tỉnh
Trong trăng khuya bỗng vẳng tiếng loa mơ.

Tự ngàn năm cả hồn xưa sực tỉnh,
Tiếng loa vang giây lát động trăng khuya,
Nhưng giây lát lại rơi im, hiu quạnh,
Cả hồn xưa yên lặng trong trăng khuya.

Trôi đi thuyền! Cứ trôi đi xa nữa!
Vỗ trăng khuya bơi mãi! Cánh chèo Mơ!
... Lòng ta là những hàng thành quách cũ,


Tự ngàn năm bỗng vẳng tiếng loa xưa.
(báo Tinh Hoa)
_________
Chú thích:
(1) Làm sau khi xem lễ Nam Giao 1936.
(2) Đã nói: “Lòng ta là những hàng thành quách cũ”, rồi lại nói cỡi “thuyền đi trong bóng tối lũy thành xưa”, bài thơ tựa hồ vô nghĩa. Nhưng nếu ta nghĩ rằng chỉ hồn ta mới có thể đi du ngoạn trong hồn ta thì ta sẽ thấy là tự nhiên vậy.


Đọc lại bài thơ này quả là chợt sững người, nghe hồn dậy nhói nỗi sầu thế sự mang mang, chị Phương Anh ạ!


Chủ Nhật, ngày 09 tháng 12 năm 2012

Biển Đông và .. Biển Thước

Trước hết, hãy nói về Biển Thước.

Ai không biết Biển Thước là ai, xin vào wikipedia đọc entry về ông, ở đây: http://vi.wikipedia.org/wiki/Bi%E1%BB%83n_Th%C6%B0%E1%BB%9Bc.

Nói vắn tắt, ông là một danh y thời Chiến quốc bên Tàu, đã nhiều phen chữa bệnh cứu người, lừng lẫy tài danh từ thời cổ đại.

Có rất nhiều giai thoại về tài chữa bệnh cứu người của ông, nhưng tôi nhớ nhất là một giai thoại mà tôi đã được đọc từ thời tiểu học, hình như là trong cuốn sách Tập đọc hay là sách gì đó, tôi không còn nhớ nữa. Một giai thoại làm cho tôi có ấn tượng sâu sắc ngay lập tức, và vẫn nhớ đến tận bây giờ, tức hơn 40 năm qua.

Xin chép lại giai thoại ấy từ trang wikipedia:

Chuyện như sau: Một hôm Biển Thước sang nước Tề gặp Tề Hoàn Công, thấy khí sắc vua Tề không tốt, bèn tâu: "Quân hầu, trong da và chân lông ngài đã có gốc bệnh, nếu không kịp thời chữa trị, bệnh sẽ nặng thêm ". Tề Hoàn Công thờ ơ đáp: "Ta cảm thấy trong người rất khỏe, chẳng có bệnh tật gì cả ". Biển Thước lui ra, sau đó năm ngày lại vào yết kiến, nhìn sắc diện rồi khẳng định một lần nữa với vua Tề: "Bệnh của ngài đã vào đến nội tạng rồi, phải chữa ngay đi". Hoàn Công tỏ vẻ khó chịu, không trả lời.

Sau khi Biển Thước đi khỏi, ông mới bảo với mọi người: "Thầy thuốc chỉ khéo vẽ vời, hù dọa người ta. Ta chẳng có bệnh gì mà ông ta dám bảo là bệnh nặng. Thật vớ vẩn! ". Năm ngày sau nữa, Biển Thước lại vào yết kiến, chỉ mới nhìn mặt vua Tề, đã quay bước, bỏ đi thẳng. Hoàn Công sai người chạy theo hỏi, Biển Thước nói:"Bệnh ở da, thịt thì còn xoa thuốc được, bệnh ở huyết mạch thì còn tiêm thuốc được, nay bệnh đã vào đến xương tủy rồi thì trời cũng không cứu được nữa, bởi vậy tôi mới bỏ đi ".

Mấy ngày sau quả nhiên Hoàn Công phát bệnh. Ông vội cho người đi tìm Biển Thước, nhưng vị "thần y"đã đi sang nước Tần rồi. Bệnh Hoàn Công ngày càng trở nặng, chẳng bao lâu vị bá chủ chư hầu này tạ thế.

Câu chuyện Biển Thước với Tề Hoàn Công tất nhiên là câu chuyện nhằm ca ngợi tài năng của Biển Thước, nhưng tôi lại nhớ nó với ý nghĩa cần phải lo xa, cảnh giác ngay khi có những dấu hiệu nhỏ. Cũng cùng ý nghĩa của câu nói: "Đừng khinh việc nhỏ, lỗ nhỏ làm đắm thuyền". Rõ ràng là không ai muốn bị giống như Tề Hoàn Công cả. Tôi trộm nghĩ, những ngày nằm trên giường bệnh chờ chết, hẳn là Tề Hoàn Công phải ân hận lắm, khi đã được Biển Thước báo trước mấy lần rồi, mà vẫn không nghe.

Và đến bây giờ, mỗi lần thấy việc gì có vẻ quá trễ, không còn làm được gì nữa mà người ta mới bắt đầu lo lắng - như Tề Hoàn Công ở cuối câu chuyện, khi bệnh đã phát ra - thì tôi lại nhớ ngay đến Biển Thước. Đấy, Biển Thước đối với tôi là có ý nghĩa như thế.

Thế còn Biển Đông? À, thì bây giờ chuyện Biển Đông đã rõ rành rành rồi, từ đứa bé con cũng biết rõ, tức là TQ đang ngang nhiên lấn chiếm biển đảo của VN mình. Mà chuyện này không hề mới đâu nhé, nó bắt đầu từ công hàm 1958 của cố TT Phạm Văn Đồng của nước VNDCCH, tức 1/2 nửa đất nước VN thống nhất hiện nay. Công hàm ấy xưa nay nhà nước ta chẳng bao giờ nhắc tới cho đến rất gần đây, mà đau một cái là chính anh bạn 16 vàng (khè) và 4 (chết) tốt TQ lại là người đầu tiên đưa ra công luận cho toàn bộ thế giới cùng biết, để khẳng định rằng Biển Đông với Trường Sa và Hoàng Sa chính là của TQ, và ngay cả VN cũng đã công nhận điều này từ lâu rồi. (Thì đó, từ năm 58 lận chứ có ít gì?)

Nhưng chuyện Biển Đông không chỉ có thế. Nào là vụ hải chiến Hoàng Sa năm 1974 giữa Trung Cộng và VNCH (xin lỗi, tôi viết TC vì thời đó ở SG người ta gọi như thế, nên tôi cũng dùng lại ngôn từ thời ấy cho nó đúng không khí lịch sử lúc bấy giờ). Rồi các vụ đụng độ giữa VN (CHXHCN Việt Nam, tất nhiên) và Trung Quốc (đúng ra phải gọi là Cộng hòa nhân dân Trung Hoa) vào thập niên 80, và dai dẳng suốt từ bấy đến giờ, mặc dù những vụ này (kể cả vụ 1974, đến các vụ 1988 và sau đó nữa) thì hình như nhà nước ta không mấy khi nhắc đến.

Nhưng từ năm 2007, đúng cách đây 5 năm, cũng ngày 9/12, thì vấn đề Biển Đông tại VN đã được rất nhiều người dân biết đến. Đó là do vụ biểu tình hiếm hoi không do nhà nước đứng ra tổ chức vào ngày 9/12/2007 mà dân SG đã chủ động tổ chức để chống lại TQ nhân vụ thành lập huyện đảo Tam Sa. Tiếc thay, lúc ấy tôi lại đi công tác ở nước ngoài nên không có thông tin gì, mà chỉ được nghe kể lại. Lúc ấy việc biểu tình không do NN tổ chức vẫn là một cái gì vô cùng đặc biệt và chắc là làm cho nhà nước ta shocked lắm lắm. Và hình như những người biểu tình lần ấy sau đó đều bị làm khó dễ, bị công an mời lên làm việc nhiều lần, và thậm chí bị tù tội, đàn áp ....

Nhưng, "chúng ta nhất định không sợ" (lời Hồ Chủ tịch). Việc biểu tình chống TQ còn lập lại nhiều lần nữa, mỗi khi chúng có hành động gây hấn. Biểu tình diễn ra chủ yếu ở Hà Nội và Sài Gòn. Có một hai lần dường như được "thả" cho tự do, thậm chí có lúc có lãnh đạo cấp cao tại VN còn cho rằng biểu tình là yêu nước nữa. Nhưng nói chung thì lúc nào cũng bị dẹp, bị bắt "lên xe buýt", đưa về trại phục hồi nhân phẩm (!), thậm chí còn bị đàn áp, bắt nóng bắt nguội, kẹp vào nách xách đi như xách con vật, và ... còn bị đạp vào mặt nữa cơ, thật là hy hữu (Only in Vietnam, OIV!)

Trừ lần biểu tình năm 2007 là tôi không được chứng kiến, còn thì những lần sau tôi đều có  cố tình đi qua, quan sát một chút. Tại sao chỉ quan sát thôi nhỉ? À, là vì tôi thường phải đi dạy vào sáng chủ nhật, nên chỉ có thể chạy xe qua sớm một chút hoặc về sớm một chút để xem tình hình, chứ không thể tham gia được. Mà muốn tham gia hình như cũng không hề dễ, vì bao giờ đường vào nơi biểu tình cũng đều bị chặn. Không chỉ chặn bằng hàng rào B40, mà còn là hàng rào người nữa. Thì đó, thử lên mạng mà tìm thì thấy ngay thôi, hình những em sinh viên tình nguyện với chiếc áo xanh cúi mặt đứng sau hàng rào chặn người biểu tình, còn bên kia hàng rào là những người, hừm, gọi họ là gì nhỉ, chẳng lẽ gọi họ là người yêu nước thì hóa ra bên kia là không yêu nước ư? Hay gọi là biểu tình viên vậy?

Không tham gia được lần nào ở SG, nhưng cũng rất tình cờ, tôi lại tham gia được ở Hà Nội, mới cách đây 1 năm thôi. Lúc ấy tôi ra HN công tác, chẳng biết trời xui đất khiến thế nào mà tôi lại ra ngồi quán cafe vào đúng cái quán mà các anh em biểu tình tập kết để đi. Việc biểu tình này tôi đã viết đăng lên blog rồi đấy, sợ lắm nhưng cũng xúc động lắm. Lại càng xúc động hơn khi hôm ấy tôi rút về sớm (vì sợ có gì bị công an giữ thì lại lỡ việc, do 2 giờ chiều tôi phải ra sân bay để tiếp tục bay vào Đà Nẵng công tác), sau đó mới biết cũng chính hôm đó, chỉ khoảng 1 tiếng đồng hồ sau thì có vụ công an đạp mặt người biểu tình nữa chứ, khiến tôi cũng làm được một bài thơ đăng lên blog về vụ đó (Khi công an Việt đạp vào mặt người yêu nước Nam, tựa của bài thơ đấy, các bạn có thể tìm trên blog này mà đọc nếu muốn biết).

Sau lần ấy, tôi còn có một lần có ý định tham gia biểu tình nữa, hình như vào tháng 7 năm nay. Hôm ấy tôi lại cũng có giờ dạy, nhưng vì là buổi thi nên tôi biết trước sẽ  ra sớm, khoảng 10 giờ, nên đã chủ ý ra Công viên 30/4 để tham gia (vuốt đuôi) khúc cuối nếu đoàn biểu tình vẫn còn. Tôi chạy xe từ Nguyễn Đình Chiểu nơi tôi dạy ra Nhà thờ Đức Bà nơi đoàn biểu tình tập kết, nhưng ra đến nơi thì không thấy đoàn biểu tình đâu cả, hình như đã bị giải tán hoặc thậm chí chưa hề bắt đầu được. Tôi chỉ thấy rất nhiều xe đậu quanh đó, với những người mặc đồng phục xanh lá cây giống như cảnh vệ hoặc bảo vệ cơ quan đứng từng nhóm xung quanh, mắt quan sát người qua lại. Và đặc biệt là rất đông người trẻ đang ngồi trong công viên, nói chuyện ồn ào, nhưng ... dường như họ đang chờ một cái gì đó, hoặc muốn làm một cái gì khác, chứ không phải là rảnh rỗi đến nỗi ra công viên ngồi chơi, nói chuyện như vậy. Một kiểu "biểu tình ngồi" (vì không khởi phát được việc tuần hành) mà tôi đã nghe trên báo chí lề trái, nhưng chưa thực sự bao giờ chứng kiến.

Để thử "hưởng" cái không khí biểu tình ngồi nổi tiếng chỉ có ở VN ấy, tôi cũng ... ngồi trên ghế đá công viên, khoảng 30 phút. Vì ngồi một mình, không có gì để làm, không có ai để nói chuyện, chơ vơ trên ghế đá giữa công viên như vậy thì kỳ, nên tôi lôi bài của học trò ra chấm. Tập trung vào bài chấm, nhưng rõ ràng tôi có cảm giác là đang bị rất nhiều cặp mắt theo dõi. Sau một lúc thì tôi có điện thoại, và khi tôi đứng lên cầm điện thoại trả lời thì rõ ràng có rất nhiều con mắt dõi theo từ những vị áo xanh cảnh vệ kia. Cảm thấy khó chịu và không an toàn quá, tôi bèn quyết định lấy xe ra về. Và ... chán!

Lúc ấy, đột nhiên tôi nghĩ, hình như việc biểu tình của tôi hoặc của chúng ta nếu có được thực hiện thì có lẽ sẽ chẳng bao giờ đi đến đâu, một khi chính nhà nước chẳng có chút động thái gì rõ ràng trước những hành vi gây hấn của ... nước lạ (có thể gọi thẳng ra đó là kẻ xâm lược phương Bắc, như trước đây mình đã từng gọi trong cuộc chiến 1979 không nhỉ). Mà ngược lại, nhà nước lại luôn ngăn cản việc biểu lộ tình cảm yêu nước của người dân như thế, thực sự không hiểu ra sao nữa? Vậy thì việc biểu tình của người dân như tôi đây có đem lại kết quả gì không?


Đấy là chuyện cách đây vài tháng. Rồi cách đây vài ngày, tôi có được thông tin về vụ biểu tình sáng nay  tại Sài Gòn. Đã có hẹn từ trước, nên tôi phân vân không biết có nên hoãn lại để tham gia biểu tình hay không? Nghĩ tới, nghĩ lui, nếu thay đổi phút chót thì lỡ việc của người khác, nhưng nếu không đi biểu tình để thổ lộ lòng yêu nước (dù nếu có giải tán, đàn áp thì chắc chắn là tôi sẽ chuồn sớm, vì ... thôi nhận đại đi, tôi hèn ấy mà), đặc biệt là nếu nhà nước đang cần thì sao? Vì gần đây tôi thấy nhà nước có vẻ có những phát biểu mạnh mẽ hơn về vấn đề  Biển Đông, ví dụ như có nhắc đến vụ cắt cáp tàu Bình Minh thêm một lần nữa (nhưng không dám gọi thẳng là cắt mà phải nói là làm đứt!). Nếu nhà nước thực sự cần đến một sự biểu lộ ra bên ngoài về lòng yêu nước, ủng hộ nhà nước chống xâm lược, thì chúng ta cũng rất nên tham gia chứ nhỉ?

Nhưng chẳng hiểu sao, cuối cùng tôi dứt khoát quyết định không đi biểu tình mà sẽ tiếp tục với kế hoạch cũ. Và cùng lúc với cái quyết định ấy, tôi nhớ đến Biển Thước. Biển Thước và Biển Đông, có vẻ tạo thành một cái tựa hay hay đấy nhỉ. Thế là tôi viết cái entry lảm nhảm, không đầu không đuôi, với cái tựa nhố nhăng này.

Thực chẳng hiểu ra làm sao cả. Có ai hiểu tại sao tôi lại nghĩ đến Biển Thước khi nói đến Biển Đông không?
-----
Tái bút:

Tôi viết entry này tối hôm qua nhưng chưa viết xong, sáng nay đi công chuyện (như đã hẹn) nên bây giờ về mới hoàn tất. Lên mạng đọc về biểu tình tại SG cũng như HN sáng nay. Và biết mình đã lo quá xa, vì nhà nước mình rõ ràng là chưa cần dân đi biểu tình chống TQ để biểu dương sức mạnh đoàn kết chống xâm lược, mà dường như vẫn cứ quan tâm đến việc bảo vệ 16 vàng khè với 4 chết tốt hơn.

Bỗng mang máng hiểu tại sao tôi nghĩ đến Biển Thước rồi: có phải nhà nước ta đang ứng xử giống Tề Hoàn Công không nhỉ?

Ai biết bảo cho tôi với nhé!


Thứ Bảy, ngày 08 tháng 12 năm 2012

Thăm thầy cũ

Đây cũng là một entry không có chữ mà chỉ có hình. Nói cách khác, nó là một phóng sự bằng hình, nhân dịp bọn tôi (12A2 NTMK niên khóa 77-78) đến thăm thầy cũ tại tư gia của thầy.

















 
 

(Như là) Sài Gòn vào thu

Sài Gòn, tất nhiên là không có mùa thu như mùa thu của Hà Nội, vốn rất nổi tiếng với những bài hát, với những ca từ rất đẹp như "Hà Nội mùa thu, ôi xao xuyến trong lòng ta ...".

Sài Gòn, chỉ hai mùa mưa nắng. Nắng thì chang chang, mưa cũng xối xả. Như ai đó đã nói, hệt như tính cách của người Sài Gòn, giận thì đùng đùng mà yêu thì tới tấp. Thật chẳng có chút gì ý tứ, nhẹ nhàng, hoặc dịu dàng, e ấp, như những cô gái ở những nơi khác, ví dụ như Hà Nội, hay là Huế. Mà cũng chẳng được sắc sảo, tinh quái, giỏi giang và suy nghĩ sâu xa như những cô gái quan họ Bắc Ninh.

Nói gọn lại trong một câu là ... rất bình thường, thậm chí có thể có người còn cho là tầm thường, thô thiển. Xin lỗi các bạn Sài Gòn, tôi không hề có ý định xúc phạm người SG vì tôi tự nhận mình là người Sài Gòn, người "đàng trong" đấy ạ. Vì dù cha mẹ là người Bắc - di cư - nhưng tôi sinh ra ở tận Sóc Trăng, tuổi nhỏ ở Phan Thiết, và lớn lên, trưởng thành và lập nghiệp ở Sài Gòn từ 5 tuổi đến giờ. Nên những nhận xét của tôi chỉ là nhận xét của một người tự xem xét mình, chứ không phải là của một người nhìn từ bên ngoài rồi phê phán những cái gì khác mình nên mình không thích.

Tính cách người Sài Gòn, nếu có gì đó nổi bật đáng khen, thì có lẽ chỉ là sự thực tình. Nghĩ sao thì nói vậy, không lòng vòng rào đón, thấy rằng đáng chê thì phang luôn thẳng thừng chứ không bọc vào đấy những lời đường mật để dễ lọt tai. Mà nếu thấy đáng khen thì cũng cứ thế mà ca ngợi, không cần cân nhắc xem có ai hiểu lầm rằng mình đang nịnh bợ hoặc quá lời hay không.

Thời tiết Sài Gòn cũng như tính cách người Sài Gòn là như thế đó: Nắng thì vỡ đầu, mà mưa thì thối đất. Nên hôm qua, buổi sáng khi ra đường đi làm, tôi rất ngỡ ngàng khi bắt gặp bầu trời màu xam xám, đùng đục hơi nước, và, chao ơi lạ quá, trời Sài Gòn đang có mưa phùn, li ti, li ti từng hạt từng hạt nhẹ nhàng rơi ...

Bầu trời trắng xám, lất phất mưa rơi, có ai tưởng tượng được đó lại là những lời mô tả thời tiết của Sài Gòn không nhỉ? Chỉ có thể là Hà Nội, hoặc Đà Lạt (là những nơi tôi đã đến và đã trải nghiệm thời tiết giống như vậy). Còn Sài Gòn ư, hoặc là rực rỡ trời xanh mây trắng nắng vàng, hoặc đen kịt mây vần vũ báo hiệu cơn mưa, hoặc xám xịt trong màn mưa dày đặc, gió quất, sấm sét thét gào...

Đi dưới cơn mưa li ti, dưới bầu trời trắng xám, trong một vài phút tôi cứ ngỡ mình đang chạy xe ở Hà Nội. Vì đó đúng là thời tiết Hà Nội cách đây một tuần, khi tôi ở đó công tác.

Nhưng thực ra đấy cũng chỉ là do tôi muốn thế, chứ bất cứ ai cũng có thể chỉ ra rằng cảnh vật ở đây không phải là ở Hà Nội, mà chỉ có thể là Sài Gòn.

Sao thế? Này nhé, nếu là Hà Nội, thì những người đi bộ trên đường chắc chắn phải cầm dù (à quên, không phải dù, mà là "ô" chứ), bước đi thong thả. Còn ở Sài Gòn, mưa thế chứ mưa nữa thì người đi đường cũng cứ phong phanh đầu trần, đi hối hả để nhanh chóng thoát khỏi cơn mưa.

Rồi đến trang phục của những cô gái. Hà Nội ư, trời vào thu hơi se se lạnh thì các cô gái đã khoe ra nào áo khoác, khăn quàng, giày bốt, đủ màu đủ kiểu xinh tươi. Còn Sài Gòn dù có mưa, trời có mát dịu hơn một chút nhưng không lạnh, nên mọi người vẫn trang phục bình thường, nếu có thì cũng chỉ poncho (tức áo mưa trùm kín), trông chẳng khác mấy cô gái Ả Rập trong khăn áo chùm đầu kín mít là mấy.

Nhưng dù không hoàn toàn giống với mùa thu của Hà Nội thì những giây phút buổi sáng dưới cơn mưa phùn li ti và bầu trời xam xám vẫn cứ làm cho tôi có vài phút mơ màng, nhớ đến và nghĩ đến cảm giác nhẹ nhàng của những mùa thu trong trí tưởng tượng, qua những bài văn, bài thơ và ca từ của những bài nhạc mà tôi đã đọc, đã nghe.

Vâng, vì Sài Gòn ồn ào náo nhiệt của tôi vẫn cần có, và vẫn mong có những giây phút chớm thu nhẹ nhàng như thế. Nhưng có lẽ cũng chỉ cần một chút thôi, chứ cứ chầm chậm, mơ mơ như thế mãi thì dân Sài Gòn vốn quen với nhịp sống hối hả chắc phát điên mất.

Và trời cũng chiều người. Chẳng hiểu sao, sau khi đi khoảng 15 phút dưới bầu trời tưởng chừng của HN mùa thu, thì khi tôi dừng xe lại chờ đèn đỏ ở trên đường Mạc Đĩnh Chi (góc Nguyễn Đình Chiểu), những hạt mưa rơi xuống bỗng nặng hạt hơn. Dù đó vẫn là một cơn mưa nhẹ chứ không phải là mưa rào xối xả quen thuộc của Sài Gòn. Vẫn chỉ lâu lâu mới rơi xuống một hạt, nhưng không phải là hạt nhỏ li ti lất phất như hạt bụi, mà là hạt nặng lộp bộp như những hạt đậu xanh. Và dù không làm cho người ta ướt sũng đến phải dừng lại để trú, nhưng những hạt mưa ấy chắc chắn cũng đủ làm cho ta tỉnh giấc mơ màng, trở về thực tại.

Và chỉ như thế, cũng đủ để cho ta nhớ rằng Sài Gòn. "quê em hai mùa mưa nắng", làm gì có mùa thu? Cơn mưa bụi ấy, chỉ là vài phút làm duyên thế thôi.

Tự nhiên tôi nghĩ, những phút "(như là) Sài Gòn vào thu" ấy thật giống kiểu làm dáng của như một cô bé 15, 16 tuổi, cao ngồng, lớn xác nhưng vẫn rất trẻ con, một hôm muốn đóng vai người lớn khi đi ăn đám cưới. Cũng đầm dài tha thướt, cũng bóp cũng giầy, cũng môi son má phấn. Trông ra dáng thiếu nữ lắm.

Nhưng chỉ một chốc, khi nhập tiệc cưới rồi, thì nhìn lại cô bé, đã thấy son môi dính lem luốc quanh miệng vì khi ăn uống cô bé của chúng ta đã không biết giữ gìn làm điệu. Thì mới tập tành, học đòi làm dáng thôi mà.

Thì cũng hệt như cơn mưa bụi sáng hôm qua của Sài Gòn. Lất phất, li ti làm điệu được một lúc, rồi không giữ được (vì không quen mà), nên những hạt mưa lại lộp bộp rơi xuống như ngày thường, dù đã cố gắng để cho khác với những cơn mưa rào thường lệ.

Nhưng như thế, cũng đủ cho Sài Gòn vào thu rồi, phải không? Và cũng đủ cho những hồn thơ của Sài Gòn có chất liệu để sáng tác rồi đó.

Ít nhất, nó cũng đủ cho tôi có một entry lảm nhảm trên blog vào một buổi sáng cuối tuần (tự cho phép mình) rảnh rỗi như hôm nay, dù công việc vẫn đầy ắp, ngổn ngang lộn xộn trên bàn...

Ừ Sài Gòn, ai cấm SG không được mơ màng, vào thu theo cách của mình cơ chứ?

Thứ Sáu, ngày 07 tháng 12 năm 2012

Những bài viết của thầy tôi (1): "Đặc điểm làng Bát Tràng"

Người thầy mà tôi nhắc tới ở đây là Thầy Trần Thế Xương, cựu giáo viên môn Văn của trường Nguyễn Thị Minh Khai. Cũng là người mà tôi đã nhắc đến một vài lần trên blog này, gần nhất là trong entry mới nhất, "Viết về thầy cũ". Tôi đã may mắn được học với thầy ở lớp 12A2 niên khóa 1977-1978 tại ngôi trường NTMK cổ kính và đầy tự hào ấy.

Thầy tôi đọc nhiều, viết nhiều, và biết rất nhiều. Và như bất kỳ người biết nhiều nào khác, thầy rất thích chia sẻ những gì thầy biết với mọi người. Vì như có ai đó đã nói, kiến thức càng cho đi lại càng tăng thêm, chứ không hề bị hao hụt. Nên trong những email thầy gửi cho bọn học trò cũ như bọn tôi, thầy hay gửi thêm những bài thầy đã viết. Thầy viết về rất nhiều lãnh vực khác nhau, và viết rất hay (vì thầy giáo dạy Văn cơ mà). Nhưng tôi vẫn thích nhất những gì thầy viết về quê hương, làng xóm, về những kỷ niệm cũ, về trường xưa, và tất nhiên, là về giáo dục.

Nhận được những bài viết của thầy, tôi rất tự hào và thích thú. Và, vì là học trò của thầy nên tôi cũng giống thầy ;-), cũng thích "khoe" những gì thầy tôi đã viết để chia sẻ với mọi người, trong đó có những người bạn của tôi ở nước ngoài, không đọc được vì lỗi font chữ. Tôi cũng đã xin phép thầy đăng lên, và đã được sự đồng ý. Nên từ nay trên blog này ngoài những bài của tôi và gần đây là một người bạn chỉ quen biết qua mail, sẽ còn có những bài viết của thầy tôi nữa.

Và đây là bài thứ nhất, viết về Làng Bát Tràng, mà tôi chỉ được biết qua mấy câu ca dao nổi tiếng

"Ước gì anh lấy được nàng/Thì anh mua gạch Bát Tràng về xây ..."

Gạch Bát Tràng của làng Bát Tràng, quê của thầy tôi, có gì mà đặc biệt thế nhỉ? Xin mọi người đọc dưới đây nhé.

Và cám ơn thầy đã cho mọi người thưởng thức bài viết rất nhiều thông tin và hoài niệm của thầy.
------------------
Đôi điều người làng Bát Tràng đáng  tự hào
Làng Bát Tràng cổ huyện Gia Lâm tỉnh Bắc Ninh ( nay thuộc Hà Nội ) có lẽ là một trong những ngôi làng khá độc đáo của Việt Nam về mọi mặt .

Ngày nay, hình ảnh và sản phẩm của làng Bát Tràng thường xuyên được phản ánh và đề cập đến .trên các phương tiện truyền thông hiện đại Đó là hình ảnh của một làng nghề gốm sứ truyền thống đang hiện đại hoá ở tả sông Hồng, bên cửa sông đào Bắc Hưng Hải lớn nhất nước , cung cấp nước tưới tiêu cho ba tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương , đã đ ư ợc Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhiều vị lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước thuộc Trung Ương và địa phương về thăm, là điểm tham quan của Thành phố Hà Nội, có đường chính của làng được bê tông hoá, với nhiều nhà ba, bốn, năm tầng, có chợ gốm đồ sộ với hàng trăm gian hàng mở cửa suốt năm trưng bày và bán hàng ngàn sản phẩm độc đáo của làng. Trước cửa chợ là bến xe Buýt , cứ 15 phút lại có xe đưa khách ra Hà Nội và đón khách từ Hà Nội về. Chưa kể, sản phẩm gốm sứ giả cổ và gốm sứ mỹ nghệ hiện đại cao cấp của làng đã xuất khẩu ra nhiều nước tiên tiến trên thế giới khiến mức thu nhập bình quân của d ân làng đạt
hạng cao nhất nước.

Nhưng thực ra tự xa xưa , làng Bát Tràng cũng đã là làng một trong những làng nổi tiếng nhất Việt Nam vì tên làng đã gắn với tên thứ gạch được nhiều người biết đến: gạch Bát Tràng. Ca dao cổ được phổ biến rộng rãi có câu "Ước gì anh lấy được nàng, Để anh mua gạch Bát Tràng về xây".  Năm 1954 trong bài "Việt Bắc"  Tố Hữu cũng đã viết "Chiếu Nga Sơ, gạch Bát Tràng". Gạch Bát Tràng vuông vức, mỗi chiều khoảng 3 tấc, dầy khoảng 7,8 cm, màu xám, rất nặng. Nay làng không còn có lò nào sản xuất thứ gạch gạch này Trong “lò bầu” sản xuất gốm sứ xưa, nhiệt độ trong lò lên tới khoảng 1250 độ.Nhưng tuỳ theo mặt hàng gốm sứ, lại cần độ lửa khác nhau, nên khi chồng lò, để tránh tình trạng lửa quá mạnh, men bị chảy, sản phẩm dính vào nhau không dùng được, ngoài những bao bằng đất nung gọi là "canh thơi", người ta phải dùng những chồng gạch đặt trong lò để điều chỉnh hướng di chuyển của lửa , tránh tiếp xúc trực tiếp với lửa, thích hợp với mặt hàng.

Thứ gạch làm bằng đất sét có trộn những mảnh vụn của đồ gốm phế phẩm, được nung đi nung lại nhiều lần nên trở thành thứ gạch chịu lửa rất rắn chắc, có màu xám, nếu dùng lát sân, thì dẫu lâu năm cũng không bị mòn, không bị bám rêu. Thời xưa , ngoài những công trình công cộng, sân nhà ai lát sân gạch Bát Tràng nối không phải là là nhà quyền quí thì cũng phải là nhà khá giả Hiện nay gạch này đã trở thành rất hiếm, vì có một thời kì người ta đã dùng nó để xây các “lò hộp “ giá một viên gạch Bát Tràng nay lên tới năm,sáu chục ngàn đồng. Chính nhờ thứ gạch này mà năm 1860 ,làng đã được vua Tự Đức tặng bức hoành phi có bốn đại tự là “ Hiếu nghĩa cấp công “ hiện đang được treo trang trọng trong toà Đại bái giữa đình làng .

Làng đã độc đáo vì là làng Việt Nam mà lại không có ruộng . Đơn giản vì làng ở ngoài đê, xa xưa chỉ có bãi sông, nhưng khi bãi sông lở mất thì không còn có đất canh tác nữa. Do đó, dân làng chủ yếu sống bằng nghề gốm sứ, buôn bán cau khô, nước mắm. Do đó, để có đất an táng người quá cố , Làng đã phải mượn đất của các làng lân cận. Nghĩa trang của làng hiện nay thuộc địa phận thôn Thuận Tốn xã Đa Tốn huyện Gia Lâm.. Làng cũng không đi tảo mộ vào tiết thanh minh như lệ thường mà lại đi tảo mộ vào ngày 6 tháng giêng nhân dịp con cháu về quê đông đủ ăn tết nguyên đán. Do đó mới có chuyện Quán đỏ. Xưa người làng có một vị đại thần , vì bận việc triều đình, ngay ngày mồng một tết đã đi tảo mộ , vì làng sở tại chưa động thổ nên khi làng đã trói vị đó lại Sau này, để chuộc lại lỗi phạm thượng với thượng quan, dân làng làng sở tại đã xây một quán gạch ba gian ở giữa đồng để làm nơi cho dân làng Bát Tràng khi đi tảo mộ có chỗ nghỉ chân.

Đặc biệt thứ hai là làng Việt Nam mà lại không không có một cây tre nào làm hàng rào. Đơn giản vì đất chật , người đông, lại sẵn gạch Bát Tràng , nên tường các nhà trong làng đều xây bằng gạch, kể cả tường xây bằng gạch Bát Tràng dựng đứng. Làng còn độc đáo vì trong Làng không có nhà lá. Đơn giản là nghề làm lò, khi lò bầu "lên đậu" tức giai đoạn trót của việc nung lò , lửa dồn lên bầu lò cao nhất, bốc ngùn ngụt , tàn bay tung toé, nếu là nhà lá thì sẽ có hoả hoạn.ngay. Đường trong làng cổ ( nay là xóm 1) , đều là đường gạch , rộng chỉ hai, ba người đi lọt, hai bên là tường cao vút. Vì thế người lạ vào làng thường bị lạc. Làng còn có những ngôi nhà cổ trên tường có nhiều ”ô” (Ô là trên tường nhà có những chỗ xây thụt vào thành những khoảng trống. để chứa những khuôn của nghề làm gốm sứ.).Nhà có càng nhiều ô thì là nhà khá giả vì đã có nhiều khuôn làm đồ gốm sứ độc đáo. Dù trải qua bao dâu bể, làng Bát Tràng hiện còn có được 21 ngôi nhà rường , xây cất trên 100 năm nay. hiện thuộc vào diện bảo tồn . Làng Bát Tràng đã nổi tiếng vì nghề gốm sứ ngay từ đầu thế kỉ XV. Trong tác phẩm “ Dư địa chí “của mình, Nguyễn Trãi đã ghi rõ sản phẩm của làng đã được chọn làm cống phẩm Trung Quốc. Chưa kể, trong gian trưng bày hàng gốm sứ tại bảo tàng lịch sử nước ta cũng như những bảo tàng lớn trên thế giới đều có trưng bày sản phẩm của Làng.

Làng Bát Tràng đã có nghệ thuật ẩm thực độc đáo . Dân làng ưa dùng canh đậu xanh chưa đãi vỏ, ăn với cà “Cầu Váu “.  Món khoái khẩu của làng là riêu cua ăn với đậu rán nóng, cá mòi tẩm nghệ nướng, óc chó ghế dấm thanh, bánh chưng ăn với chè kho , đặc biệt là món mực sào măng. Cỗ họ luôn có cơm nắm, cháo nhừ (dừ) để nhớ lại những ngày. Tổ tiên 5 họ Vương, Lê, Trần, Phạm, Nguyễn đã từ làng Bồ Bát trấn Thanh Hoa (nay là làng Thượng Phường, xã Yên Thành, huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình) di cư ra .hợp với họ Nguyễn Ninh Tràng ( ó khả năng là họ Nguyễn từ Trường ( cũng đọc là Tràng) Vĩnh Ninh ( trấn Thanh Hoa ) nơi từng sản xuất loại gạch xây thành nổi tiếng ) đã định cư trước thành làng Bát Tràng cổ. Do chữ Bồ Bát và Ninh Tràng ghé ghép lại ). Do đó sau này, khi làng vào Hội , chỉ có họ Nguyễn Ninh Tràng mới được rước bát hương của họ che lọng vàng, vào đình bằng cửa giữa còn Tổ tiên các dòng họ khác chỉ đuợc rước bát hương của họ mình che lọng xanh vào đình bằng cửa hai bên .

Chưa kể , tả hữu đình làng mỗi khi vào Hội đều trang trọng treo hai bức lụa đỏ trên có ghi hàng chữ và ng “ Bồ di thủ nghệ khai đình vũ, Lan nhiệt tâm hương bái thánh thần” dịch sát nghĩa là : Xưa từ làng Bồ dời ra vẫn giữ nghề cũ mở mang thêm đình miếu, Nay đốt nén tâm hương thơm ngát hương lan chiêm bái thánh thần “ và ông từ của Đình làng hiện nay là Nguyễn Văn Hương chính là hậu duệ của họ Nguyễn Ninh Tràng. Dân làng cổ Bát Tràng đã tổ chức nhiều lần về thăm quê cũ. Đoàn về thăm quê cũ năm 2007 nhân dịp kỉ niệm 700 năm chiến thắng Bô Cô của nhà Hậu Tr ần còn được gập đoàn khảo cổ quốc tế do 4 Tiến sĩ khảo cổ học Việt - Mỹ - Nhật - Úc lãnh đạo đang khai quật di chỉ nơi cư trú cũ của làng cổ và đã có những phát kiến quan trọng từ 3500 năm trước.

Làng Bát Tràng còn độc đáo vì trong các triều đại phong kiến đã có nhiều người hiển đạt.Tổng cộng Làng đã có 364 người đỗ từ tam trường ( tức Tú tài ) trở lên, trong đó có 8 Tiến sĩ (Vương Thời Trung (1589) Trần Thiện Thuật (1684) Nguyễn Đăng Liên (1706)Lê Hoàn Viện (1715) Nguyễn Đăng Cẩm(1718) Lê Hoàn Hạo (1727)Lê Danh Hiển( 1785)Vũ Văn Tuấn (1843)và một Trạng nguyên ( Hà Giáp Hải 1538) nên Văn chỉ của làng đã có nóc, người kém hiểu biết đã gọi lầm là “Văn từ “ ( ! ), Làng còn có nhiều người được phong tới tước hầu (Thanh trung hầu Trần Trung Thanh) tước công (Đôn quận công Lê Ngang, Cơ quận công, Tuấn quận công Nguyễn Tuấn …) . Do đó, hiện nay Làng còn lưu truyền bài vè trong có câ u “ Làng Bát Tràng là làng văn hiến, Vốn xưa nay nổi tiếng xa gần, Các quan văn võ triều thần, Quận công, Tiến sĩ, Cử nhân ,Tú tài ..”.

Cử nhân, Tú tài thời phong kiến không phải là Cử nhân, Tú tài như thời nay.Thi Hương xưa mở ở một vùng. Triều Nguyễn cả nước từ bắc chí nam chỉ có 7 trường thi là các trường thi Hà Nội, Nam Định,,Nghệ An, Thừa Thiên, Bình Định, Gia Định,An Giang.Trừ ân khoa, lệ thường cứ ba năm mới mở một khoa ,luôn luôn mang tính cách thi tuyển , lấy đỗ từ điểm cao xuống thấp, số người trúng tuyển gọi là “giải ngạch”. Mỗi khoa thi có 4 kỳ có tên là kỳ Đệ nhất, kỳ Đệ nhị , Kỳ đệ tam, kỳ Đệ tứ . Người đỗ kỳ đệ nhất được gọi là “ông Nhất” , người đỗ kỳ Đệ nhị được được gọi là “ông Nhì “, người đỗ kỳ Đệ tam thì được gọi là Tú Tài (triều Hậu Lê gọi là Sinh đồ ). Kỳ thứ tư thường là kỳ xép hạng . Số Tú tài luôn gấp ba Cử nhân Chảng hạn, một khoa thi có 10 ngàn người dự thi thì chỉ lấy đỗ 200 người., Đỗ từ thứ nhất đến 50 thì là Cử nhân (triều Hậu Lê gọi là Hương cống .Đỗ Cử nhân thứ nhất thì gọi là Giải nguyên hay Thủ khoa ) Đỗ từ 51 đến 200 thì là Tú Tài. Đỗ Cử nhân mới được thi Hội , hoặc đuợc bổ dụng ra làm quan,

Đã đỗ Tú tài mà khoa sau lại thì nữa thì vẫn phải thi từ kỳ Đệ nhất ..Nêu lại đỗ Tú tài lần nữa thì gọi là "Kép". Nếu Tú kép lại đỗ Tú tài một lần nữa thì gọi là “Mền “. Do lấy đỗ rất ít nên Cử nhân, Tú tài ngày xưa rất có giá trị Nguyễn Du chỉ đỗ Tú tài, Nguyễn Đình Chiểu đỗ Tú tài trường thi Gia Định khi ra Huế định dự thi Hương lần nữa thì được tin mẹ mất phải bỏ thi về chịu tang, Trần Tế Xương thi tám khoa, chỉ có khoa thi thứ tư đỗ Tú Tài . Cụ Nghè cuối cùng của Làng là Cụ Nghè Vũ Văn Tuấn,Tiến sĩ khoa thi năm 1843, từng đi s ứ Trung Quốc . Cụ Cử Cử nhân cuối cùng là cụ Cử Trần Lê Nhân, Cử nhân khoa thi năm 1912, thầy day Hán văn của các ông Trần Văn Ngần,Trần Thế Xương…

Làng rất tự hào về vai trò quan trọng của phụ nữ. trong mọi gia đình. Đơn giản vì gái làng rất đảm, nổi tiếng chiều chồng nuôi con .Hầu như mọi chuyện lớn nhỏ đều do tay các bà đảm đang cả . Do đó, người đàn ông Bát Tràng nếu không dành thì giờ lo chuyện học hành thì hoàn toàn rảnh rang để hưởng mọi lạc thú ở đời .Do đó, dù là làng thủ công nghiệp ,buôn bán, nhưng làng vẫn có được một Trạng nguyên và 8 Tiến sĩ .Chưa kể , một vị vua triều Nguyễn (Minh Mạng (? ) sau khi nghe một vị khâm sai tấu trình về nếp sống của đàn ông Bát Tràng đã nói “ Ngay đến Trẫm còn phải lo trăm công ngàn việc , còn đàn ông Bát Tràng thì sướng thật . Do đó ca dao mới có câu : “Sống làm con trai Bát Tràng “ và còn có câu “ Bé thì cơm mẹ cơm cha, Lớn thì cơm vợ, già thì cơm con “.

Làng rất tự hào vì người làng đều có họ hàng với nhau cả. Nếu không họ nội thì cũng họ ngoại Thật đúng với tinh thần “ trong họ, ngoài làng “ Đơn giản vì gái làng rất đảm , trừ người đi làm ăn xa xa , trai gái trong làng ít chịu lấy người thiên hạ .Do đó, có trường so vai vế bên nội thì là anh, chị em, nhưng nếu so vai vế bên ngoại họ ngoại thì rất có thể lại là cô, dì, chú, bác , cậu ,mợ., và ngược lại. Do đó , tình làng nước vô cùng sâu đậm .và ông già bà cả trong làng khi tiễn con xuất giá luôn căn dặn con ,cháu "Nếu mày mà thất lễ với họ hàng nhà chồng thì đã thất lễ với chính họ nhà ta đấy".

Làng rất tự hào vì ngoài đền ,chùa , miếu, văn chỉ. Làng đã có ngôi đình làn nguy nga thuộc hạng lớn nhất Việt Nam được đại tu vào năm 1720., nhưng vì thiên tai , địch hoa đã bị sập , nay đã được trùng tu bằng cả tấm lòng của dân làng..Riêng toà Đại bái của làng mới khánh thành 12 năm 2006 đã rộng 28 mét , sâu 16 mét , có những cột gỗ lim cao ngất , lớn đến độ người lớn ôm không xuể . Đình làng đã được phục chế đúng như nguyên mẫu còn lưu giữ tại Viện Bác cổ . Điều thật đáng tự hào , dù kinh phí chưa dự trù đủ, làng vẫn quyết tâm xây dựng .Thiếu tiền , dân làng đã tự nguyện cho mượn. Thậm chí có người đã thế chấp cả nhà mình để vay tiền ngân hàng cho làng mượn .Và khi đáo hạn, người khác trong làng lại thế chấp nhà mình để chuộc nhà cho người cho vay trước.Làng xứng đáng được chọn làm điểm tham quan du lịch của thành phố Hà Nội.

Làng rất tự hào vì còn lưu giữ được nguyên bản 44 đạo sắc phong của các triều Hậu Lê, Nguyễn Quang Trung,Nguyễn Gia Long phong tặng cho 6 vị Thành hoàng của Làng . Bản sắc phong xưa nhất thuộc niên hiệu năm Cảnh Hưng thứ 28 triều Hâ u Lê ( 1767 )và bản sắc phong cuối cùng thuộc niên hiệu Khải Định ( 1924) Do đó,.dù sống ở đậu, làm bất cứ nghề gì , dân làng vẫn không quên ngà y giô Tỗ của Họ, nhất là ngày Hội làng hàng năm tổ chức vào ng ày 14 đ ến 15 tháng hai âm lịch hàng năm.

Thuận Đức
1/5//2008

Thứ Ba, ngày 04 tháng 12 năm 2012

Viết về thầy cũ

Rất tình cờ, tôi mới liên lạc được - dù chỉ qua mail - với người thầy cũ thời trung học.

Đi học, có lẽ ai cũng sẽ có ít nhất là một người thầy (cô) mà họ nhớ mãi, vì sự kính phục, hâm mộ, yêu mến, do những nét tính cách và/hoặc hành vi mà người thầy (cô) ấy đã tạo ra trong thời gian thầy trò cùng làm việc, ít ra cũng cả năm trời. Người thầy mà tôi nhắc đến ở đây là một người như thế: đã học qua rất nhiều thầy cô nhưng tôi chỉ có ấn tượng sâu sắc nhất với một vài người, trong đó có thầy. Và hình như cả lớp tôi đều như thế.

Chúng tôi, như nhiều học sinh (bội bạc) khác, rất yêu mến thầy. Nhưng chúng tôi học xong rồi đi, thầy ở lại. Bọn học trò đi, chẳng mấy khi có đứa quay về thăm trường cũ. Như ai đó đã nói, các thầy cô (phổ thông) như những người đưa đò, hàng ngày cần mẫn đưa khách qua sông. Khách qua sông, lên bờ rồi tỏa đi khắp nơi, đến những chân trời xa lạ. Còn người đưa đó thì cứ vậy, ngày qua ngày, lưng còng dần dưới sức nặng của tháng năm, mắt mờ, chân chậm, vẫn bến đò xưa, cây đa cũ, và giòng nước vẫn miệt mài trôi.

Thầy tôi người Bắc (di cư), nói tiếng Bắc, văn hóa Bắc, nên tôi nhận thấy ở thầy có chút gì đó giống ba tôi. Rất nhiều ký ức và cảm xúc về quê cha đất tổ, về hiện tình đất nước, về cuộc đời, về trách nhiệm phải làm gì đó cho cuộc sống của mình có ý nghĩa. Và đặc biệt là rất thích học hỏi, thích kiến thức, thích cập nhật mọi việc - to be in the know as they say in English. Dưới mắt tôi, thầy là một lớp người hơi cổ, hơi như một ông đồ, giấy rách phải giữ lấy lề. Một cái gì đó không lẫn vào đâu được, dù không biết phải gọi đó là cái gì.

Vâng, chúng tôi học với thầy một năm rồi đi. Nhưng những gì thầy đã gieo vào lòng chúng tôi trong những năm tháng trẻ thơ ấy, khi tính cách đang được hình thành, sẽ còn mãi và đi theo chúng tôi suốt cả cuộc đời. Còn thầy thì vẫn ở đó, vẫn trường xưa, vẫn nhà cũ, vẫn miệt mài sách vở, lấy việc gieo kiến thức làm vui. Và lặng lẽ dõi theo, vui mừng với những thành đạt của học trò cũ, dù chúng có thể chẳng còn nhớ tới mình.

Thầy ơi, chúng em chắc chắn sẽ ghé thăm thầy, thầy nhé. Có rất nhiều việc chúng em cần phải làm, trước khi quá muộn. Như một người thầy (cô) cũ đã vừa nằm xuống, theo quy luật của muôn đời. Rồi cũng đến từng người trong chúng em thôi, như một bạn cũng vừa đi xa.

Dù sao thì làm nghề thầy cũng rất tự hào (dù nhiều cơ cực), phải không thầy?