Thứ Bảy, 19 tháng 10, 2013

Tư liệu: Nguồn gốc chữ quốc ngữ (Tác giả: Huỳnh Ái Tông): (1)


Là một người Việt chọn ngôn ngữ (tiếng Anh) làm một nghề để theo đuổi, từ lâu tôi đã rất quan tâm về việc tại sao trong số các nước chịu ảnh hưởng sâu đậm của văn hóa Trung Hóa là Nhật, Hàn và Việt Nam, chỉ có mỗi mình Việt Nam là có sử dụng mẫu tự La tinh để ghi âm tiếng nói của mình. Vấn đề này lại càng hấp dẫn hơn đối với tôi vì gia đình tôi theo đạo Công giáo, và tôi từ nhỏ tôi đã được học rằng chữ quốc ngữ (chữ viết chúng ta đang dùng hiện nay) là do các cố đạo tạo ra - tất nhiên ban đầu để phục vụ mục đích của họ. Điều đáng nói là Việt Nam đã có lúc cấm đạo rất dữ dưới thời các vua nhà Nguyễn, nên chữ quốc ngữ - vốn do các cố đạo phương tây tạo ra trước hết là với mục đích truyền đạo - hẳn phải bị kỳ thị lắm, nhưng không hiểu sao từ một công cụ được xem là của bọn "ngoại bang" dùng để truyền "tả đạo" vào VN, nó lại trở thành ngôn ngữ quốc gia?

Câu hỏi này không chỉ làm tôi tò mò, mà còn là một đề tài nghiên cứu tiến sĩ của một anh NCS người Đài Loan mà tôi đã có dịp gặp vào đầu thập niên 1990 khi VN mới bắt đầu mở cửa. Khi ấy tôi còn ở Khoa Anh của Trường ĐH Tổng hợp cũ, và hay được nhờ để phiên dịch khi có những đoàn nước ngoài vào VN. Anh chàng NCS còn trẻ lắm, chưa đến 30, và mới bắt đầu thực hiện nghiên cứu thôi. Luận điểm của anh ta là VN cũng như Đài Loan đều đã có khởi điểm giống nhau, tức các giáo sĩ phương Tây đến truyền giáo và tạo ra chữ viết theo mẫu tự La tinh để phục vụ việc truyền giáo, nhưng cuối cùng hai nơi có kết quả khác nhau là vì người Việt Nam có tinh thần ái quốc và độc lập dân tộc cao hơn (!) nên đã nhận ra vai trò của chữ quốc ngữ như một công cụ để phục vụ phong trào yêu nước dành độc lập và truyền bá tư tưởng về tự do dân chủ vv. Nghe ra rất thú vị, và tất nhiên đó chỉ là giả thuyết; kết cục anh ta đã nghiên cứu ra sao thì tôi không còn liên lạc để biết. Nhưng dẫu sao cũng là một giả thuyết mà theo tôi là khá có giá trị mà chúng ta cần tiếp tục tìm hiểu.

Hôm nay có một ít thời gian, tôi tìm và đưa về đây một số tư liệu về chữ quốc ngữ để lưu cho mình và chia sẻ với mọi người. Enjoy các bạn nhé!
--------------
Nguồn: http://namkyluctinh.org/a-ngonngu/huynhaitong-quocngu.pdf

A. Đại Cương
Danh từ chữ Quốc ngữ hay chữ Việt, người Việt chúng ta đã dùng từ lâu, mặc dù nó không được chính danh. Bởi vì danh từ chữ Quốc ngữ là danh từ chung, chỉ cho các thứ chữ của một nước, chẳng hạn chữ Nôm ( 1 ) cũng là chữ Quốc ngữ của nước ta, nhưng do chúng ta dùng lâu đã quen, nên danh từ chữ Quốc ngữ để chỉ cho chữ viết chúng ta dùng ngày nay. Chữ nầy thoạt đầu do những vị giáo sĩ Tây phương truyền đạo tại Việt Nam, họ mượn mẫu tự La tinh, ghép lại để ghi âm địa danh và nhân vật địa phương, từ đó nó đã trải qua các thời kỳ hình thành chữ Quốc ngữ, qua quá trình hình thành, nó đã được sự đóng góp của người Việt cũng như người ngoại quốc, phần chính vẫn là người Việt chúng ta.


Sự hình thành chữ Quốc ngữ có thể chia ra làm ba thời kỳ :
* Thời kỳ sáng tạo từ năm 1621.
* Thời kỳ xây dựng năm 1651.
* Thời kỳ phát triển từ năm 1867.


Chúng ta biết rằng, khoảng giữa thế kỷ XVI, lúc ấy nước ta chia thành Nam, Bắc triều. Năm 1533, có giáo sĩ Irigo (I-Nê-Khu), người Âu, theo đường biển vào nước ta ở Đàng Ngoài, tại Nam Định để giảng đạo. Năm 1596, giáo sĩ Diago Advarte đến Đàng Trong ở một thời gian rồi bỏ đi, cho đến năm 1615, giáo sĩ Francesco Buzomi đến lập Giáo Đoàn Đàng Trong (Mission de la Cochinchine), đến năm 1627, giáo sĩ Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes) mới lập Giáo Đoàn Đàng Ngoài (Mission de Tonkin).

Cả hai giáo đoàn nầy đều thuộc Dòng Tên, có một trung tâm truyền giáo ở Áo Môn (Macao – Trung Quốc), vì trước kia người Bồ Đào Nha sang Trung Hoa buôn bán, họ ở bán đảo Schangch’nan thuộc Quảng Châu, vào khoảng năm 1557, có bọn cướp biển trú ẩn ở Áo Môn, thường hay khuấy nhiễu Quảng Châu, nên người Trung Hoa nhờ các thương gia Bồ Đào Nha dẹp bọn cướp biển ấy, sau khi dẹp xong bọp cướp, người Bồ Đào Nha xin phép nhà cầm quyền Trung Hoa cho họ trú ngụ ở bán đảo Schangch’nan và Áo Môn, mỗi năm họ đóng thuế cho chánh quyền Trung Hoa, cho đến thế kỷ XX Áo Môn vẫn còn thuộc Bồ Đào Nha.

Thuở đó, các nhà truyền giáo Tây phương muốn sang Viễn đông, họ đều theo các thương thuyền Bồ Đào Nha, cho nên họ chọn Áo Môn làm trung tâm truyền giáo để hoạt động ở Trung Hoa, Nhật Bản và Việt Nam, nơi ấy có cả một Viện thần học ” Madre de Dieux ” (Mẹ Đức Chúa Trời).

Do đó các giáo sĩ người Âu thường từ Áo Môn sang Đàng Ngoài hay Đàng Trong và ngược lại, họ thường dùng ngôn ngữ Bồ Đào Nha để giao dịch với nhau, những phúc trình truyền giáo hay thư từ gửi về La Mã có khi họ viết chữ Bồ, có khi họ viết chữ La Tinh.


B. Sự Hình Thành Chữ Quốc Ngữ

I.- Thời Kỳ Sáng Tạo Chữ Quốc Ngữ
Không phải chữ Quốc ngữ hình thành do sự ngẫu nhiên từ những chữ phiên âm tiếng Việt, thực ra chữ Quốc ngữ hình thành theo hướng chung của các giáo sĩ Tây Phương, họ muốn La Tinh hóa các chữ Á Đông nằm trong địa bàn truyền giáo của họ.

Thật vậy, tại Trung Hoa, Hoa ngữ được các nhà truyền giáo dùng mẫu tự La Tinh phiên âm trước nhất, công việc nầy do hai giáo sĩ Dòng Tên là Micac Ruggieri và Matteo Ricci đã soạn quyển Ngữ vựng hay Tự vựng Bồ-Hoa, quyển nầy mỗi trang chia làm 3 cột : chữ Bồ, chữ Hán, phiên âm Hoa ngữ, tài liệu nầy soạn khoảng năm 1584-1588, bảng viết tay còn lưu trử tại văn khố Dòng Tên ở La Mã (Rome).

Năm 1598, giáo sĩ Ricca và Cateneo đã dùng ký hiệu để ghi các thanh Hoa ngữ.

Tại Nhật Bản, các tác phẩm chữ Nhật đã được La tinh hóa, từ năm 1592 đến năm 1596 có đến 10 tác phẩm loại nầy được in ra, hai tác phẩm quan trọng sau đây đáng được nhắc đến:
 

1) Cuốn Giáo lý ghi bằng tiếng Nhật theo mẫu tự La Tinh có tên là : Dotrina Jesus no Compania no Collegio Amacusa ni voite superiores no vou xi no comuni core no fan to nasu mono nari, Nengi, 1592.

2) Cuốn tự điển La – Bồ – Nhật: Dictionarium latino lusitanicum ac Japonium (In Amacusa in Collegia Japonico Societa Jesus, Anno 1595). Ngoài ra còn có sách ngữ pháp Nhật được in theo mẫu tự a, b, c vào năm 1603-1604.

Tại Việt Nam, thời kỳ sáng tạo chữ Quốc ngữ có thể chia ra làm 2 giai đoạn :
* Giai đoạn phiên âm.
* Giai đoạn cấu tạo câu.

1. Giai đoạn phiên âm
Về nguồn gốc, có lẽ câu sau đây là một dòng chữ xuất hiện đầu tiên, trong tiến trình hình thành chữ
Quốc ngữ.

” Con gno muon bau tlom laom Hoalaom chian “.
Câu nầy, theo giáo sĩ Christofora Borri ( 2 ), là câu mà các giáo sĩ đàng trong đã dùng trước khi ông có mặt tại đây, nó có nghĩa là : Con nhỏ muốn vào trong lòng Hoa Lang chăng ?

Danh từ Hoa Lang, không rõ do đâu mà có, nhưng đó là danh từ do người Việt Nam thời bấy giờ dùng để chỉ cho người Bồ Đào Nha, và sau đó được dùng để gọi chung các nhà truyền giáo Tây Phương.

Như vậy câu trên là câu các nhà truyền giáo Tây phương muốn hỏi một người Việt rằng : ” Muốn vào đạo Thiên chúa chăng ? “ Vì lẽ câu nói không diễn tả được rõ ý nên Linh mục Buzomi đã sữa lại như sau : ” Muon bau dau Christiam chiam ? “ ( Muốn vào đạo Christiang chăng ?).

Đây là câu trích trong quyển sách của Christoforo Borris xuất bản năm 1631 tại La Mã, viết bằng chữ Ý ( 3 ). Tuy vậy, chúng ta có thể coi những chữ phiên âm trong sách nầy đã được ông dùng trong thời gian từ 1618 đến 1621, là thời gian ông sống ở Đàng Trong.

Phiên âm : Nghĩa
Anam : An Nam
Tunchim : Đông Kinh
Ainam : Hải Nam
Kemoi : Kẻ mọi
Cacciam : Cả chàm (Kẻ Chàm)
Sinunua : Xứ Hóa ( Thuận Hóa)
Quamguya : Quảng Nghĩa
Quignin : Qui Nhơn
Dàdèn, lùt : Đã đến lúc
Scin mocaij : Xin một cái
Chià : Trà
Cò : Có…..


Onsaij : Ông sãi
Quanghia : Quảng Nghĩa
Nuoecman : Nước mặn
Da, an, nua : Đã ăn nữa,
Da, an, het : Đã ăn hết
Omgne : Ông nghè
Tuijciam,biet: Tui chẳng biết
Onsaij di lay : Ông Sãi đi lại
Bàncò : Bàn Cổ
Maa : Ma
Maqui, Macò : Ma quỉ, ma quái
Bũa : Vua Chiuna : Chúa
Bản phúc trình của Linh mục João Roig viết bằng chữ Bồ Đào Nha tại Áo Môn ngày 20-11-1621, để gửi về La Mã, trong ấy có phiên âm vài danh từ như sau :
An nam : An Nam
Sinoa : Xứ Hóa
Usai : Ông Sãi
Ungne : Ông nghè
On trũ : Ông trùm
Ca cham : Ca chàm ( kẻ chàm, tức Thanh Chiêm, thủ phủ Quảng Nam Dinh, thời ấy dân chúng gọi là Cả Chàm hay Dinh Chàm)
Nuocman : Nước Mặn
Bafu : Bà phủ
Sai Tubin : Sãi Từ Bình ( ? )
Banco : Bàn Cổ
Oundelinh : Ông Đề Lĩnh

Cùng năm ấy, Linh mục Gaspa Luis cũng viết một bảng tường trình bằng La văn tại Áo Môn ngày 12-12-1621 gửi cho Linh mục Mutio Vitelleschi ở La Mã, để báo cáo về giáo đoàn Đàng Trong, trong ấy có dùng vài phiên âm :
Cacham : Kẻ chàm
Nuocman : Nước Mặn
Ongne, Ungué : Ông nghè
Bancô : Bàn Cổ

Đến ngày 16-6-1625, giáo sĩ Đắc Lộ có viết một lá thư bằng Bồ văn gửi cho Linh mục Nuno Mascarenhas, trong ấy có vài phiên âm :
Ainão : Hải Nam
Tunquim, Tunquin : Đông Kinh

Thêm một tài liệu khác Gaspar Luis viết bằng La văn ngày 1-1-1626 tại Nước Mặn để gửi cho Linh mục Mutio Vitelleschi ở La Mã, trong ấy có phiên âm một số địa danh và danh từ:
Fayfó : Hải phố (Fayfo : Hội An)
Cacham : Kẻ chàm

Nuocman : Nước Mặn
Pullocambi : ?
Dinh cham : Dinh chàm
Quanghia : Quảng Nghĩa
Quinhin : Qui nhơn
Ranran : Ran ran ( tức là sông Đà Rằng ở Phú Yên)
Bendâ : Bến đá
Bôdê : Bồ đề
Ondelimbay : Ông Đề Lĩnh Bảy
Ondedoc : Ông Đề đốc
Unghe chieu : Ông nghè Chiêu
Nhit la khaun, khaun la nhit : Nhứt là không, không là nhứt


Và Linh mục Antonio de Fontes người Bồ Đào Nha, đã có đến ở Đàng Trong năm 1624 và Dinh Chàm với Linh mục Pina và Đắc Lộ, cũng ngày 1-1-1626, Linh mục Fontes viết tại Hội An một bản tường trình bằng Bồ văn gửi cho Linh mục Mutio Vitelleschi là Bề Trên Cả Dòng Tên ở La Mã, bảng tường trình nầy gồm có 3 phần, trong ấy cũng cho chúng ta biết thuở ấy giáo đoàn Đàng Trong có 3 cơ sở: Hội An, Kẻ Chàm (Quảng Nam) và Nước Mặn (Qui Nhơn). Trong bảng tường trình nầy, có các phiên âm :
Digcham : Dinh Chàm
Nuocman : Nước Mặn
Quinhin : Qui Nhơn
Sinua, Sinuâ : Xứ Hóa
Orancaya : ?
Quan : Quảng (Quảng Nam)
Xabin : Xá Bình ?
Bếndá : Bến đá
Bude : Bồ đề
Ondelimbay: Ông Đề Lĩnh Bảy
Ondedóc : Ông đề đốc
Onghe Chieu : Ông nghè Chiêu
Nhít la khấu, khấu la nhít : Nhứt là không, không là nhứt
Dinh Cham : Dinh Chàm
Sinóa : Xứ Hóa

Ngày 13-7-1626, Linh mục Francesco Buzomi viết một lá thư chữ Ý gửi cho Linh mục Mutio Vitelleschi, cách phiên âm có tiến triển phần nào, vì các danh từ ghi theo đơn âm như ngày nay, các chữ phiên âm trong bức thư nầy gồm có:
Xán tí : Xán tí (Thượng đế)
Thiên chu : Thiên chủ (Thiên chúa)
Thiên chũ xán tí : Thiên chủ thượng đế
Ngaoc huan : Ngọc hoàng

Cho đến năm 1631, có thêm hai tài liệu của Đắc Lộ: một vào ngày 16-1-1631, ông có viết một bức thư gửi cho Linh mục Nuno Mascarenhas ở La Mã , trong ấy chỉ tìm thấy có một chữ phiên âm Thinhũa : Thanh Hóa, và một bản văn khác thuật lại việc ông cùng Linh mục Pedro Marques tới cửa Bạng (Thanh Hóa) vào ngày 19-3-1627 cho đến lúc Linh mục Antonio F. Cardin đến Thăng Long ngày 15-3-1631 (trong chuyến đi ấy, có các Linh mục Gasparo d’Amiral, André Palmeiro, Antonio de Fontes), tài liệu nầy gồm 2 trang rưỡi chữ, viết trên giấy khổ 16 x 23 cm, trong ấy chỉ phiên âm có mấy chữ :
Sinoa : Xứ Hóa (thuận Hóa)
Anná : An nam
Sai : Sãi
Mía : Mía ( nhà tạm trú)

Những tài liệu phiên âm trên, cho chúng ta thấy phần nào sự manh nha hình thành chữ Quốc Ngữ
trong các năm từ 1621 đến năm 1631. Trong mười năm đó, chúng ta thấy sự phiên âm không mấy tiến triển, chưa có sự thống nhất nào cả, chẳng hạn như danh từ xứ Hóa, họ đã phiên âm :
Sinoa (Jão Roig 20-11-1621)
Sinua, Sinuâ, Sinoá (Antonio de Fontes 1-1-1626)
Sinoa (Đắc Lộ 1631)
Danh từ Ông Nghè :
Omgne (Christoforo Borri 1618-1621)
Ungne (Jão Roig 20-11-1621)
Ongne, Ungué ( Gaspar Luis 12-12-1621)
Unghe (Gaspar Luis 1-1-1626)
Onghe (Antonio de Fontes 1-1-1626)



(còn tiếp)

Thứ Sáu, 18 tháng 10, 2013

Khi nào Trung Quốc có thể thực sự trở thành siêu cường? (tư liệu dịch)

Sự vươn lên mạnh mẽ của Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong vài thập niên vừa qua để trở thành một nền kinh tế đứng thứ hai sau Hoa Kỳ đã làm cho cả thế giới kinh ngạc và thán phục. Tuy nhiên, những thành tựu trong phát triển kinh tế của Trung Quốc không phải là không có mặt trái của nó, trong đó có những tác hại ghê gớm về môi trường, về các chính sách xã hội, và đặc biệt là về mối quan hệ giữa chính phủ và dân chúng - tất cả đang đe dọa làm chậm lại sự phát triển của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới này.

Xin giới thiệu với bạn đọc một bài phân tích về cái giá phải trả cho việc phát triển kinh tế tại Trung Quốc của một học giả người Anh gốc Trung Quốc vừa đăng trên tờ London Evening Standard của Anh ngày 14/10/2013. Những phân tích của tác giả không chỉ có tác dụng cảnh báo đối với Trung Quốc mà còn đúng cho cả Việt Nam trong giai đoạn phát triển hiện nay,  vì nhiều vấn đề mà Trung Quốc đã và đang đối mặt gặp phải cũng là những vấn đề của chính chúng ta.

Tựa bài viết do tôi đặt lại; tựa gốc là "TQ không thể là một siêu cường cho tới khi nào dân TQ được tự do".

Nguồn: http://www.standard.co.uk/comment/sir-david-tang-china-wont-be-a-superpower-until-its-people-are-free-8878936.html
--------  
Tốc độ phát triển phi thường của Trung Quốc trong ba thập kỷ vừa qua đã khiến nhiều người tin rằng đất nước này sẽ trở thành một siêu cường của thế kỷ 21, thậm chí một số người còn cho rằng TQ sẽ qua mặt Hoa Kỳ . Bản thân tôi cũng là người Trung Quốc và tôi cũng cảm thấy tự hào về những thay đổi nhanh chóng trong đất nước của tôi, những thay đổi đến mức không còn nhận ra được, kể từ khi tôi bắt dầu giảng dạy tại Đại học Bắc Kinh từ đầu thập niên tám mươi đến nay. Tuy vậy, những điều đó vẫn chưa đủ sức thuyết phục tôi tin rằng Trung Quốc sẽ trở thành bá chủ của thế giới trong thế kỷ 21.

Trung Quốc đang chuyển từ một xã hội nông nghiệp - nông thôn sang một xã hội công nghiệp - đô thị, và quá trình này đang làm cho vấn đề bảo vệ đất canh tác ngày càng trở nên nghiêm trọng. Bình quân mỗi người dân Trung Quốc hiện chỉ có 900 mét vuông đất canh tác trên đầu người , ít hơn đến 40 phần trăm so với mức bình quân toàn cầu. Đáng báo động hơn là nguồn tài nguyên vốn đã hạn chế này lại đang liên tục giảm dần. Nhiều khu vực nông thôn rộng lớn đang bị chính phủ các cấp - cấp quốc gia, cấp tỉnh và địa phương - biến thành các đô thị với lý do là cần phát triển.


Không chỉ là đất đai, mà không khí cũng đang có vấn đề, vì bị ô nhiễm trầm trọng. Chất lượng không khí tồi tệ trên toàn cõi Trung Quốc, đặc biệt là tại các thành phố lớn - là điều mà không ai có thể tranh cãi. Các chỉ số về chất lượng không khí đăng trên trang Twitter của Đại sứ quán Mỹ ở Bắc Kinh vào hồi hè thiệu đã đưa ra những nhận định đại loại như "vô cùng tệ hại" hoặc "không thể dùng chỉ số nào để ghi lại". Ngoài ra, sự ô nhiễm không khí đang tăng rất nhanh do khí độc từ nhà máy luyện kim loại và từ ngành công nghiệp pin. Điều này dẫn đến nhiễm độc chì , một trong những vấn đề sức khỏe phổ biến nhất ở trẻ em: hiện có đến một phần ba số trẻ em Trung Quốc bị nhiễm chì trong máu ở mức cao .


Sau nữa là nước. Những vấn đề nghiêm trọng hiện nay là sự khai thác nước ngầm quá mức dẫn đến mực nước ngầm giảm liên tục. Nguồn nước đang cạn kiệt dần. Việc khai thác các đập nước và các hệ thống thủy lợi khác đã làm ngưng dòng chảy tự nhiên của sông Hoàng Hà, gây nguy cơ hạn hán trên toàn bộ thung lũng. Thậm chí vào năm 1997, vùng hạ lưu sông Hoàng Hà đã ngưng chảy đến 230 ngày trong năm.

Vì vậy, chỉ cần xét đến các điều kiện thiết yếu của cuộc sống  thì đã có thể thấy Trung Quốc  đang phải đối mặt với những vấn đề rất lớn. Những vấn đề này thậm chí lại càng nghiêm trọng hơn vì dân số khổng lồ đến 1,3 tỷ người của Trung Quốc, kèm theo những vấn đề về nhân khẩu học của đất nước này, tất cả đã tạo ra cái mà có lúc người ta ví von là một "cơn bão hoàn hảo".


Trước hết, tổng số dân trong độ tuổi lao động của Trung Quốc chắc chắn sẽ giảm liên tục trong vòng 20 năm tới. Đến năm 2030, chỉ có ba công nhân trẻ để thay thế cho hơn bốn công nhân của thế hệ trước đó. Với một lực lượng lao động giảm đi về số lượng và già hơn về tuổi tác, chắc chắn tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc sẽ không còn giữ được như trước đây.


Thứ hai, Trung Quốc sẽ bùng nổ dân số người cao tuổi trong vòng 20 năm tới . Đến năm 2030, đất nước này sẽ có 240 triệu người từ 65 tuổi trở lên. Số lượng người cao tuổi ngày càng tăng chắc chắn sẽ đặt lên đất nước Trung Quốc một áp lực kinh tế ghê gớm mà chưa có quốc gia có mức thu nhập tương đương đã từng phải đối mặt .


Thứ ba, do chính sách một con với xu hướng ưu tiên có con trai (cùng những số liệu thống kê kinh hoàng về việc tiêu diệt trẻ sơ sinh nữ) , Trung Quốc sẽ có một sự mất cân đối lớn giữa nam và nữ. Tủ số trong năm 2005 đã là 120 bé trai trên 100 bé gái. Hậu quả là có một số lượng ngày càng tăng các thanh niên không thể lập gia đình và trở nên thất vọng.


Thứ tư, chính sách một con cũng có nghĩa là thế hệ này không có nhiều anh chị em , cô dì, chú, bác, cũng không có cháu gái và cháu trai. Với truyền thống tổ chức các hoạt động doanh thương dựa trên quan hệ huyết thống của Trung Quốc, chắc chắn thành tựu kinh tế của nước này sẽ bị ảnh hưởng.


Nhưng có lẽ câu hỏi quan trọng nhất về tương lai của Trung Quốc liên quan đến các lãnh đạo của họ, hoặc đúng hơn là các ủy viên thường vụ Bộ Chính trị. Có rất ít thông tin về việc những nhân vật này lựa chọn cách làm việc cùng nhau như thế nào, hoặc thậm chí là họ đang nghĩ những gì, hoặc đưa ra những quyết định như thế nào. Quá trình đưa ra tất cả các quyết định quan trọng của nhà nước đều không rõ ràng, và điều này tồn tại từ khi thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Quốc vào năm 1949 đến giờ. Chính điều này đã gây nên một nền văn hóa "đâm sau lưng" lẫn nhau giữa những người đang cạnh tranh quyền lực, và quan trọng hơn là nó tạo ra một sự cắt đứt hoàn toàn mối quan hệ giữa chính phủ và dân chúng. Và điều này không bao giờ có thể là cơ sở để xây dựng một quốc gia phát triển thực sự bền vững. 


Những khó khăn của người dân Trung Quốc với tư cách từng cá nhân là rất căn bản. Rất thường xuyên chúng ta thấy có các hội nghị, hội thảo và các bài viết nói về Trung Quốc như một quốc gia - về các tiến bộ đã đạt được, con số tăng trưởng kinh tế , sự gia tăng của tầng lớp trung lưu - nhưng hiếm khi có ai đề cập đến vai trò của các cá nhân.

Khi tôi sống ở Trung Quốc trong thập niên tám mươi đầu tôi đã có cảm nhận rất rõ về sự tồn tại của một lối cai trị bàn tay sắt bọc nhung chiếm ưu thế ở thủ đô. Đó là một cảm giác rất rõ về sự sợ hãi của người dân đối với nhà chức trách. Ba mươi năm sau, tình hình có vẻ ít căng thẳng hơn - nhưng tôi vẫn có thể phát hiện ra cảm giác sợ hãi, hoặc ít ra là bất lực của người dân. Khi người Trung Quốc được hỏi xem họ nghĩ về Đại hội lần thứ 18 của Đảng Cộng sản năm ngoái, câu trả lời của họ là họ không quan tâm bởi vì nó không liên quan đến họ. Tôi nghĩ điều họ có ý nói rằng họ chẳng thể có tác động gì, và vì thế chẳng có lý do gì khiến họ cần quan tâm cả.


Chính là cảm giác sợ hãi này là trở ngại lớn nhất đối với một Trung Quốc đang cố gắng nổi lên như một siêu cường.
Trung Quốc chỉ có thể thực sự trở thành một quốc gia vĩ đại khi đất nước này có được sự trọng dụng nhân tài thực sự trong các cơ quan công quyền, cũng như sự kết nối thực sự giữa chính phủ và dân chúng, cùng với quá trình đảm bảo - dù là dần dần - các quyền tự do cơ bản cho toàn bộ người dân. Chúng ta cần nhìn thấy một đất nước Trung Quốc nơi người dân được sống thoải mái và hạnh phúc mà không phải có sợ hãi đối với chính quyền.

Tôi rất mong nhìn thấy Trung Quốc nổi lên như một siêu cường trong thế kỷ 21. Nhưng vẫn còn đây nỗi sợ hãi và sự bất hạnh bao trùm lên đa số những thường dân. Cách đây 100 Trung Quốc đã trở thành một nước cộng hòa với lời hứa dân chủ - mang lại sự kết thúc cho 4.000 năm cai trị của các triều đại phong kiến. Có thể Trung Quốc sẽ phải cần thêm 100 năm nữa để đảm bảo tự do thật sự trước khi đạt được vị thế siêu cường. Suy cho cùng, 200 năm cũng là khoảng thời gian mà nước Mỹ đã phải bỏ ra để trở thành một siêu cường từ một khởi đầu nghèo khó.