Chủ Nhật, 20 tháng 10, 2013

Tư liệu: Nguồn gốc chữ quốc ngữ (Tác giả: Huỳnh Ái Tông): (5)

Phần 4 ở đây: http://bloganhvu.blogspot.com/2013/10/tu-lieu-nguon-goc-chu-quoc-ngu-tac-gia_20.html 
-------------
c.- Sự đóng góp của Linh mục Antonio Barbosa
Antonio sanh năm 1594 tại ville de Arrifana de Sonza, Bồ Đào Nha, gia nhập Dòng Tên vào ngày 13-3-1624. Năm 1629, ông được cử đến truyền giáo ở Đàng Trong và đến tháng 4 năm 1636, ông có đến Đàng Ngoài truyền giáo. Cho đến tháng 5 năm 1642, vì lý do sức khỏe, ông phải trở về Áo Môn tịnh dưỡng. Cũng do tình trạng sức khỏe không tốt nên sau một thời gian tịnh dưỡng, ông rời Áo Môn đi Goa và ông đã từ trần trên đường đến Goa năm 1647.

Mặc dù ngày nay Antonio không có để lại tài liệu Quốc ngữ nào, nhưng Đắc Lộ đã cho biết : ” Tôi lợi dụng công việc của các giáo sĩ khác cũng thuộc Dòng Tên, nhất là của Gasparo d’Amiral và Antonio Barbosa. Cả hai ông nầy, mỗi ông đều làm một cuốn tự điển. Ông Gasparo d’Amiral làm cuốn Annamiticum – Lusitanium; ông Antonia Barbosa làm cuốn Lusitanum – Annamiticum. Nhưng tiếc rằng cả hai ông đều chết sớm. Tôi lợi dụng công việc của cả hai ông viết ra cuốn tự điển mới, có chua thêm tiếng La tinh, mục đích để giúp người bản xứ học tiếng La tinh theo lệnh của các đức hồng y.” ( 4 )

d.- Sự đóng góp của người Việt
Dù sao, khởi thủy chữ Quốc ngữ hình thành cũng nằm trong mục đích chánh là phương tiện truyền giáo cho các giáo sĩ thuộc Dòng Tên ở Việt Nam. Bên cạnh các giáo sĩ, giáo dân Việt Nam thời đó không nhiều thì ít cũng có đóng góp trong lúc hai linh mục Gasparo và Antonio soạn hai quyển tự  điển của họ, điều đó tuy không có chứng cứ, nhưng theo suy luận hợp lý, cho phép chúng ta tin như vậy.

Ngoài ra trong thời kỳ nầy còn có tài liệu của 14 giáo dân Việt Nam ghi bằng chữ Quốc ngữ, về việc họ xác nhận tán đồng ý nghĩa mô thức rửa tội, do 31 linh mục Dòng Tên thảo luận ở Viện Thần Học tại Áo Môn năm 1645. Tài liệu nầy là một bản La văn do các linh mục Dòng Tên soạn, để trả lời cho Linh mục Sebastião de Jonaya, nhan đề: ” Cirra formam Baptismi Annamico Idiomate prolatam’ ( Chung quanh mô thức rửa tội bằng thổ ngữ An Nam). Phần chữ Quốc ngữ của 14 giáo dân Việt Nam ghi như sau:

” Nhin danh Cha uà con uà Su-phi-ri-to-sang-to í nài An-nam các bỏn đạo thì tin ràng ra ba danh ví bàng muốn í làm một thì phải nói nhin nhít danh cha etc.- tôy là Giu ão câi trâm cũ nghi bậi – tôy là An re Sen cũ nghi bậi – tôy là Ben tò vẫn triền cũ nghi bậi – tôy là Phe ro uẫn nhit cũ nghi bậi – tôy là An jo uẫn tãu cũ nghi bậi – tôy là Gi-ro-ni-mo cũ nghi bậi – tôy là I-na sô cũ nghi bậi – tôy là tho-me cũ nghi bậi – tôy là Gi-le cũ nghi bậi – tôy là lu-i-si cũ nghi bậi – tôy là Phi-lip cũ nghi bậi – tôy là Do-minh cũ nghi bậi – tôy là An-ton cũ nghi bậi – tôy là Giu ão cũ nghi bậi ” ( nhân danh Cha và con và Su-phi-ri-to Sang-to Spirito Santo ý nầy An nam các bổn đạo thì tin rằng ra ba danh. Ví rằng muốn ý làm mộy thì phải nói : nhân danh Cha vân vân. Tôi là Giu an Cai (?) Trâm cũng nghĩ vậy – Tôi là An rê Sen cũng nghĩ vậy – Tôi là Ben tô Văn Triều cũng nghĩ vậy – Tôi là Phê rô Văn Nhất cũng nghĩ vậy – Tôi là An gio Văn Tang cũng nghĩ vậy – Tôi là Gi-rô-i-mô cũng nghĩ vậy – Tôi là Gi le cũng nghĩ vậy – Tôi là lu-i-si cũng nghĩ vậy – Tôi là Phi líp cũng nghĩ vậy – Tôi là Đô Minh cũng nghĩ vậy – Tôi là An ton cũng nghĩ vậy – Tôi là Giu an cũng nghĩ vậy).

Như thế, chúng ta thấy rõ đây là một bản văn Quốc ngữ của 14 người Việt Nam xác nhận mô thức rửa tội năm 1645 của các linh mục Dòng Tên và đây là tài liệu cho chúng ta thấy sự đóng góp của người Việt Nam trong tiến trình hình thành chữ Quốc ngữ.

Qua so sánh, chúng ta có thể thấy rằng chữ Quốc ngữ năm 1645 chỉ giống chữ viết ngày nay khoảng 45%, và thời kỳ sáng tạo chữ Quốc ngữ khởi đầu từ năm 1621 đến đây đã chấm dứt, để chuyển sang thời kỳ kế tiếp.

Tưởng cũng nên nhắc lại, từ khi khởi đầu phiên âm cho đến khi hình thành chữ Quốc ngữ, không phải là sự ngẫu nhiên, bởi vì giáo đoàn truyền giáo Dòng Tên trước đó đã hoàn tất việc việc La tinh hóa chữ Nhật, để truyền giáo tại Nhật Bản. Nhật Bản cũng như Việt Nam ta, thuở đó mỗi nước đều có chữ Quốc ngữ biến chế từ chữ Hán, nước ta gọi là chữ NÔM, muốn biết chữ Nôm, đòi hỏi người ta phải am tường chữ Hán, chữ Hán vốn đã khó học rồi thì chữ Nôm lại càng khó hơn, chính vì thế mà các linh mục đã La tinh hóa chữ viết của Nhật cũng như Việt Nam, để cho công việc truyền giáo của họ được dễ dàng hơn.


(còn tiếp)

Tư liệu: Nguồn gốc chữ quốc ngữ (Tác giả: Huỳnh Ái Tông): (4)

Phần 3 tại đây: http://bloganhvu.blogspot.com/2013/10/tu-lieu-nguon-goc-chu-quoc-ngu-tac-gia_1152.html
-----------
 b.- Sự đóng góp của Linh mục Đắc Lộ (tiếp theo)

Các chữ phiên âm trong quyển một.
Tung : Đông
kin : kinh
Annam : An Nam
Ai nam : Hải Nam
Chúacanh : Chúa Canh
Che ce : kẻ Chợ (Thăng Long)
Chúa bàng : Chúa Bàng (đúng ra là Bình; Bình An Vương Trịnh Tùng)
Chúa õu : Chúa ông
Chúa thanh đô : Chúa Thanh Đô ( Thanh Đô Vương Trịnh Tráng)
uuan : vương
min : minh
bát min : bất minh
thuam : thuận
uan : văn
uu : vũ
gna ti : nhà ti
gna hien : nhà hiến
Cai phu : cai phủ
Cai huyen : cai huyện
Bua ; vua
den : đền
sin do : sinh đồ
huan cong : hương cống
tin si : tiến sĩ
tam iau : tam giáo
dạu nhu : đạo nhu (nho)
dạu thíc ; đạo thích
Thicca, Thic ca, Thiccả : Thích ca
Sai : Sãi
sai ca : Sãi cả
lautu : Lão tử
Giô : giỗ
Cu hồn : Cô hồn
ba hon : ba hồn
Chin via : Chín vía
dum : Đồng (tên)
Các chữ phiên âm trong quyển hai
Cửa bang : Cửa Bạng (Thanh Hóa)
Phạt : Phật
bụt : Bụt
dang : Đàng
ciiia oũ : chúa ông
ciiia ban uuan : chúa Bằng vương
ciii sai : chúa Sãi
ciii canh : chúa canh
thinh hoa : Thanh Hóa
thai : thầy
sai vai : Sãi Vãi
Che vich : kẻ vích (cửa Vích, cửa sông ở phía Bắc Thanh Hóa)
Che no : Kẻ Nộ
Gne an : Nghệ An
bochin : bố chính
Rum : Rum
kiemthuong : Kiêm Thượng
Phuchen : Phục chân
cà : Cà
cã : cả
cá : cá
tlẽ : trẻ
tle : tre

Tài liệu năm 1644, Đắc Lộ viết bằng Bồ văn tại Thanh Chiêm, nhan đề: ” Relacão do glorioso Martirio de Andre Cathequista Protomartir de Cochinchiana alanceado, e degolado em Cachão no 26 de Julho de 1644 Tendo de Idade dezanove annos ” ( Tường thuật cuộc tử đạo vinh hiển của Thầy giảng An-Rê, vị tử đạo tiên khởi ở Đàng Trong, đã bị đâm chém tại kẻ Chàm ngày 26-7-1644, tử đạo lúc 19 tuổi), tài liệu nầy có những chữ phiên âm và câu phiên âm :
 

Ounghebo, Oũnghebo : Ông Nghè Bộ
Giũ nghĩa cũ d chúa Jesu cho den het hoy, cho den blon doy : Giữ nghĩ cùng đức chúa Jesu cho đến
hết hơi, cho đến trọn đời.

Tài liệu năm 1647, Đắc Lộ viết bằng La văn tại Macassar ngày 4-6-1647 có nhan đề : ” Alexandre
Rhodes è Societate jesu terra marique decẽ annorũ Itinerarium ” (Cuộc hành trình mười năm trên bộ, dưới biển của Đắc Lộ thuộc Dòng Tên), tài liệu nầy có các phiên âm như sau:

Ciam : Chàm
Ranran : Ran ran
Ké han : Kẻ Hàn
On ghe bo : Ông nghè Bộ
ke cham : kẻ Chàm
halam : Hà Lan
Cai tlam, Caitlam : Cát Lâm
ben da : Bến đá
Qui nhin : Qui Nhơn
Nam binh : Nam Bình
Bao bom : Bầu vom
Quan Ghia : Quảng Nghĩa
Nuoc man : Nước Mặn
bau beo : Bầu Bèo (?)
liem cum ; Liêm công
Quanghia : Quảng Nghĩa
Baubom : Bầu Vom
bochinh : Bố chính
Oũ ghe bo : Ông nghè Bộ

Sau khi đối chiếu tiểu sử của Gasparo d’Amiral và Đắc Lộ cùng các tài liệu phiên âm như trên, chúng
ta có nhận định sau :

1) Linh mục Gasparo d’Amiral phiên âm có tự dạng gần với chữ Việt chúng ta viết ngày nay, hơn là các
phiên âm của Đắc Lộ, thử so sánh :
Tài liệu Gasparo d’Amiral 1632 : Tài liệu Đắc Lộ 1636
—————– Thanh đô vương ——– thanh đô
—————– Nhà ti ——————— gna ti
—————– Nhà hién —————– gna hien
—————– Nghệ ăn, nghệ an —— Gne an
—————– Bố chính —————– bochin

2) Gasparo d’Amiral phân biệt được một số dấu giọng như đã vạch ra ở phần trước, trong khi Đắc Lộ lại ít dùng dấu giọng.

3) Ngay trong cách phiên âm của Đắc Lộ, tài liệu sau phiên âm kém hơn tài liệu trước. Trái lại, Gasparo d’Amiral phiên âm tài liệu năm 1637 khá hơn tài liệu năm 1632.

Năm 1632, bảng tường trình của Gasparo d’Amiral gửi cho Linh mục André Palmeiro, giám sát các tỉnh Nhật, trung Hoa lúc đó Đắc Lộ cũng ở tại Áo Môn (1630-1640), là người tha thiết với các giáo đoàn truyền giáo tại Việt Nam, chắc chắn Đắc Lộ có xem qua bảng tường trình nầy.

Từ năm 1638-1645 Gasparo d’Amiral ở tại Áo Môn, như vậy họ đã có thời gian ở bên nhau 2 năm 1638-1640, rồi tháng 7 năm 1645 đến 20-12-1645 Đắc Lộ từ Việt Nam trở lại Viện Thần Học Áo Môn, phụ trách dạy tiếng Việt, còn Gasparo d’Amiral đã soạn quyển Tự vựng Việt La, như vậy cả hai có thêm thời gian ở bên cạnh nhau, lại cùng hoạt động chung bộ môn tiếng Việt, điều đó cho ta thấy chắc chắn Đắc Lộ có chịu ảnh hưởng của Gasparo d’Amiral về lãnh vực tiếng Việt.

Tài liệu Đắc Lộ viết năm 1647 tại Macassar, chứng tỏ rằng sau khi ông rời Việt Nam ngày 20-12-1645, ông vẫn chưa có được một hệ thống phiên âm vững chắc và gần gủi với chữ Quốc ngữ ngày nay.


(còn tiếp)

Thứ Bảy, 19 tháng 10, 2013

Tư liệu: Nguồn gốc chữ quốc ngữ (Tác giả: Huỳnh Ái Tông): (3)

Phần 2 ở đây: http://bloganhvu.blogspot.com/2013/10/tu-lieu-nguon-goc-chu-quoc-ngu-tac-gia_19.html
-----------
b.- Sự đóng góp của Linh mục Đắc Lộ.
Linh mục Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes), người được Pháp đề cao đã sáng chế ra chữ Quốc Ngữ, mang lại sự khai hóa cho dân tộc Việt Nam, với chiêu bài nầy để che đậy hành động thực dân, xâm chiếm lãnh thổ và cai trị hà khắc dân tộc chúng ta. Để hiểu rõ vấn đề nầy, chúng ta cần lướt qua tiểu sử và hành trình truyền giáo của Đắc Lộ. 


Đắc Lộ sinh ngày 15-3-1591 tại Comtat Venaissin, tỉnh Avignon, miền Nam nước Pháp, tổ tiên ông gốc Do Thái. Tổ phụ của ông đã di cư từ Tây Ban Nha sang Avignon vào giữa thế kỷ XVI, thân sinh ông là Benadin II de Rhodes, được liệt vào hàng thân hào, nhân sĩ trong vùng.


Đắc Lộ gia nhập Dòng Tên ở La Mã ngày 14-4-1612, học tập chuyên về thần học và toán học tại học viện Saint André du Quirinal, thụ phong linh mục tại La Mã năm 1618. Cũng trong năm nầy, ông được phép sang Đông Nam Á truyền giáo, ông đến Lisbonne thủ đô Bồ Đào Nha, rồi từ đây đáp tàu đi Áo Môn ngày 04-4-1619, vì có ghé qua Goa (Ấn Độ) nên ông đến Áo Môn ngày 29-5-1623, ông đặt chân lên Việt Nam lần đầu tiên vào tháng 12 năm 1624 tại Đà Nẳng, cùng với các linh mục Gabriel de Mattos và một giáo sĩ Nhật.

Đắc Lộ đến cơ sở truyền giáo Thanh Chiêm thuộc Quảng Nam Dinh, nơi đây có Linh mục Francisco de Pina (sinh năm 1585 tại Bồ Đào Nha, đến Đàng Trong năm 1617 và chết đuối ở Quảng Nam năm 1625) và Antonio de Fontes (đến Đàng Trong tháng 12 năm 1624), tại đây Đắc Lộ học tiếng Việt với Francisco de Pina, tháng 7 năm 1626 ông rời Đàng Trong về Áo Môn, ngày 19-3-1627, ông cùng với Linh mục Pierre Marquez đến của Bang ( Thanh Hóa), ở đây, hai ông có yết kiến Trịnh Tráng, rồi sau đó theo chúa Trịnh ra Thăng Long, thời gian nầy hai Linh mục lập giáo đoàn Đàng Ngoài, tháng 5 năm 1630, chúa Trịnh cấm đạo, trục xuất các giáo sĩ, Đắc Lộ trở về Áo Môn.

Từ năm 1630 đến năm 1640, Đắc Lộ dạy thần học ở học viện thần học Áo Môn. năm 1640, ông được cử đến Đàng Trong làm Bề Trên, thay thế Linh mục Buzomi vừa từ trần tại Quảng Nam Dinh, ông ở đây cho đến ngày 3-7-1645, bị bắt buộc phải rời cơ sở truyền giáo Thanh Chiêm, theo lệnh của quan Cai bộ áp dụng luật trục xuất các giáo sĩ của chúa Nguyễn. Kể từ đó, ông rời hẳn nước Việt Nam, trở lại Áo Môn ông dạy tiếng Việt ở Học viện Thần Học, ngày 20-12 năm 1645 ông đáp tàu từ Áo Môn đi  Âu Chuâ, nhằm mục đích vận động thành lập hàng giáo phẩm Việt Nam.


Ngày 16-11-1654, Tòa thánh La Mã cử Đắc Lộ làm Bề trên của phái đoàn truyền giáo ở Ba Tư. Đầu tháng 11-1655, ông đáp tàu từ Marseille đi Isapham thủ đô Ba Tư, và tại đây ông đã trút hơi thở cuối cùng vào ngày 5 tháng 11 năm 1660.

Giai đoạn trước, giáo sĩ Đắc Lộ có để lại 3 tài liệu về chữ Quốc Ngữ vào năm 1625 và 1631 đã dẫn ở trên và giai đoạn sau này, ông cũng để lại 3 tài liệu khác viết vào các năm 1636, 1644, 1647.

Tài liệu năm 1634, viết tay có nhan đề "Tuchineois Historiae libri duo quorum altero status temporalis hujus Regni, altero mirabiles evangelicae praedications progresus refurnutur. Coeptae per Patres Societatis Jessu, ab Anno 1627 ad Annum 1636" (Lịch sử Đàng Ngoài và những bước tiến triển lớn lao mà phúc âm rao giảng đã làm ở nước này để hóa cải lương dân, từ năm 1627 đến năm 1636). Bản này ghi bằng La văn gôm 2 quyển, lưu trữ tại Văn khố Dòng tên ở La Mã.

(còn tiếp)

Tư liệu: Nguồn gốc chữ quốc ngữ (Tác giả: Huỳnh Ái Tông): (2)

Phần 1 ở đây: http://bloganhvu.blogspot.com/2013/10/tu-lieu-nguon-goc-chu-quoc-ngu-tac-gia.html
----------
2. Giai Đoạn Cấu Tạo Câu
a.- Sự đóng góp của Gasparo d’Amiral
Giai đoạn kế tiếp được coi như khởi sự từ năm 1632 với những phiên âm của Gasparo d’Amiral, trong giai đoạn nầy, chúng ta thấy vai trò đóng góp cho sự hình thành chữ Quốc ngữ của Gasparo d’Amiral rất quan trọng, ông phiên âm có phương pháp. Tài liệu dẫn sau đây cho chúng ta thấy rõ Đắc Lộ đã theo phương pháp của ông để phiên âm trước khi dựa vào quyển tự điển Bồ Đào Nha – Annam cũng của ông, để Đắc Lộ soạn quyển tự vị “An Nam – Bồ Đào Nha – La Tinh “.

Để hiểu rõ điều chúng tôi vừa đề cập tới, không gì hơn là chúng ta nhìn lại cuộc đời và vết đi của họ,
chúng ta sẽ thấy ảnh hưởng của Gasparo d’Amiral đối với Đắc Lộ.

Gasparo d’Amiral sinh năm 1592 tại Bồ Đào Nha, gia nhập Dòng Tên ngày 1-7-1608, ông đã làm giáo sư dạy La văn, Triết học, Thần Học tại các học viện và đại học Evora, Braga, Coinbra ở Bồ Đào Nha. Năm 1623, Gasparo d’Amiral đến Áo Môn, vào tháng 10 năm 1926, ông cùng với Thầy Paulus Saito (1577-1633 người Nhật) đến Đàng Ngoài cho đến tháng 5 năm 1630 cả hai cùng với Linh mục Đắc Lộ và Pedro Marques về Áo Môn. Ngày 18-2-1631 Gasparo cùng 3 Linh mục khác là André Palmeiro, Antonio de Fontes và Antonio F. Cardim từ Áo Môn đáp tàu Bồ Đào Nha đến cửa Bạng (Thanh Hóa) và đến ngày 15-3-1631, các Linh mục nầy mới đến Kẻ Chợ (Thăng Long).

Sau đó Linh mục Palmeiro và Fontes trở về Áo Môn còn Amiral và Cardim ở lại tiếp tục công cuộc truyền giáo tại Đàng Ngoài. Năm 1638, Linh mục Amiral được gọi về giữ chức Viện Trưởng Viện  thần học tại Áo Môn, như vậy ông đã ở Đàng Ngoài được 7 năm.

Đến năm 1641, ông được cử làm Phó Giám Tỉnh Dòng Tên hai tỉnh Nhật và Trung Hoa (gồm các nước Nhật, Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia, Thái Lan và Trung Hoa – Áo Môn, Quảng Đông, Quảng Tây). Năm 1645, ông đáp tàu từ Áo Môn đi Đàng Ngoài, khi tàu đến gần đảo Hải Nam bị đắm, do đó ông bị chết đuối vào ngày 23-12-1645.

Trong 7 năm ở Đàng Ngoài, Gasparo d’Amiral còn để lại 2 tài liệu liên quan đến chữ Quốc Ngữ. Tài liệu 1, ông viết bằng Bồ văn tại Kẻ Chợ vào ngày 31-12-1632 nhan đề: ” Annua do reino de Annam  do anno de 1632, pera o Pe André Palmeiro de Compa de Jesu, Visitator das Provincias de Japan, e China ” ( Bảng tường trình hàng năm về nước An nam năm 1632, gửi cha André Palmeiro, Dòng Tên, giám sát các tỉnh Nhật và Trung Hoa). Tài liệu nầy hiện lưu trử tại văn khố Dòng Tên La Mã, trong đó có một số phiên âm như sau:

Tun kim : Đông Kinh, chỉ cho xứ An Nam
Đàng tlão : Đàng Trong
Đàng ngoày : Đàng Ngoài
Đàng tlên : Đàng trên
Oũ nghe : Ông nghè
nhà thượng dày: nhà thượng đài
nhà ti, nhà hién : nhà ti, nhà hiến
nhà phũ : nhà phủ
nhà huyẹn : nhà huyện
oũ khơũ : Ông Khổng ( Khổng Phu Tử)
Đức laõ : Đức Long; niên hiệu Đức Long (1629-1634)
Vĩnh Tộ : Vĩnh Tộ; niên hiệu Vĩnh Tộ (1620-1628)
Bua : Vua
Tế Kì đạo : Tế kỳ đạo
Đức vương : Đức Vương
Chúa oũ : Chúa Ông ( tức Trịnh Tráng)
Chúa tũ, chúa dũ, chúa quành : Chúa Tung (Trịnh Vân; Tung Quận Công)
Chúa Dũng (Trịnh Khải; Dũng Quận Công)
Chúa Quỳnh ( Trịnh Lệ; Quỳnh quận công)
Chúa cả : Chúa cả (Trịnh Tạc, vào thời nầy Đàng Ngoài có 5 chúa là : Trịnh Tráng, Trịnh Tạc, Trịnh
Vân, Trịnh
Khải, Trịnh Lệ mà chỉ 2 chúa có quyền hành mà thôi)
Thanh đô vương : Thanh Đô Vương
Chúa triết : Chúa Triết (Trịnh Tùng)
Kẻ chợ : Kẻ Chợ (Thăng Long)
yêu nhău : yêu nhau
oũ phô mả liêu : Ông Phò Mã Liêu (con rễ Trịnh Tráng)
Đàng Ngoằy : Đàng Ngoài
Quãng : Quảng
Tàm đàng : Tàm Đàng
Bên đoũ đa : Bên Đống Đa
tày : Tầy
lằng bôũ bàu : làng Bông Bầu

Cô bệt : Cô Bệt
Tri yếu : Tri yếu
kẻ hằii : kẻ hầu
ăn dương huyẹn : An Dương huyện
coũ thằn : công thành
Thíc ca : Thích Ca ( Phật)
Phổ lô xã : Phổ lô xã
Sãy uãy : Sải vải
Hộy ăn xả : Hội An xã
huyẹn uịnh lạy : huyện Vĩnh Lại
Thầi uăn Chật : Thầy Văn Chật
làng Kẻ tranh xuyên : Làng Kẻ Tranh Xuyên
Kẻ trãng : Kẻ Trang
Sấm phúc xả : Sấm Phúc xã
Nghỹa ăn xả : Nghĩa An xã
huyẹn bạyc hặc : Huyện Bạch Hạc
thầi phù thủi : Thầy phù thủy
Oũ jà nhạc : Ông già Nhạc
Oũ phu mã kiêm : Ông Phò mã Kiêm
bà : bà (?)
chúa bàng : chúa Bằng
thăn khê : Thanh Khê
hàng bè : hàng Bè
hàng bút : hàng Bút
cữa nam : cửa Nam
kẻ ăn lẵng : kẻ An lãng
hàng nấm : hàng nắm
đinh hàng : Đinh hàng
càii iền : Cầu Yên
hàng thuõc : hàng thuốc
oũ đô đốc hạ : Ông Đô Đốc Hạ
Oũ phũ mã nhăm : Ông Phò mã Nhâm
Oũ chưỡng hương : Ông chưởng Hương
Thầi : Thầy
đức oũ hồe : Đức ông Huề
thuyèn thũỉ : thuyền thủy
Quãng liẹt xã : Quãng liệt xã
giỗ : giỗ
chặp : chạp
mă : ma
kẽ uạc : kẻ Vạc
cỗ : cỗ
oũ chưỡng quế : ông chưởng Quế
tình : tình

nhũộn : nhuận
tháng : tháng
cốt bõý : cốt bói
Kẽ lăm huyẹn toũ sơn : kẻ Lâm, huyện Tống Sơn
Nghệ an : Nghệ An
Bố chính : Bố chính
thuặn hốe : Thuận Hóa
huyẹn nghi xuon : huyện Nghi Xuân
huyẹn Thinh Chương : huyện Thanh Chương
làng cầii : làng Cầu
nhà nga : nhà nga
đậii xá : đậu xá
vàng may : Vàng May
đức bà sang phú : đức bà sang phú
oũ bà phủ : ông bà phủ
kẽ mộc : kẻ Mộc
kẽ bàng : kẻ Bàng
an nam : An Nam

Tài liệu thứ hai cũng soạn bằng Bồ văn tại kẻ Chợ ngày 25-3-1637, có nhan đề: ” Relacam dos Catequista da Christamdade de Tumk e seu modo de proceder pera o Pe Manoel Dias, Vissitador de Jappão e China ” (Tường thuật về các Thầy giảng của giáo đoàn Đàng Ngoài và về cách thức tiến hành của họ, gửi cha Manoel Dias, giám sát Nhật Bản và Trung Hoa), tài liệu nầy hiện lưu trử tại Văn Khố Hàn Lâm Viện Sử Học Hoàng Gia Madrid Bồ Đào Nha. Gồm có một số phiên âm sau đây :

Sãy : Sãi
đức : đức
Chúa thanh đô : Chúa Thanh Đô
thầy : thầy
định : định
nhin : Nhơn (tên)
Nghệ an : Nghệ an
lạy : lạy
tri : Tri (tên)
bùi : Bùi (tên)
Quang : Quảng (tên)
tháng : Thắng (tên)
Coũ thàn : Công Thành
Sướng : Sướng (tên)
đàng ngoài : Đàng Ngoài
già : Già (tên)
Vó : Vó (tên)
nân : Nân (tên)
lồ : Lồ (tên)
đôủ thành : Đông thành (tên)
Kẻ chợ : Kẻ Chợ (tên)

Trong hai tài liệu nầy, tài liệu thứ nhất có gần 400 chữ phiên âm, chưa được thống nhất cách dùng mẫu tự ghi âm. Ví dụ :
Âm a ghi ă (Hội ăn xã) hay ghi a (Nghệ an)
Âm ò ghi ô (oũ phô mả liêu) hay ũ (oũ phũ mả kiêm)
Có một số âm, phụ âm, dấu giọng không như ngày nay :
Các âm â ghi ă (hàng nấm)
———– ê – e (huyẹn, hién)
———– y – i (thầi)
———– o – õ (bõy)
——— âu – ăii (hầu)

Các phụ âm : ng ghi ũ (oũ)
—————– ch – yc (bạyc)

Các dấu giọng : ? ghi ~ (cữa nam, phũ)
——————- ~ – ? (Sấm phú xả, Nghỹa ăn xả)
Tuy nhiên Gasparo d’Amiral cũng ghi được các âm như ngày nay :
a (nghệ an ) ă (hàng nắm) â (thầi)
ê ( nghệ) ô (giỗ) ơ (chợ)
i (nghi xuôn) u (yêu nhău) ư (thương, vương)

Có đủ dấu giọng:
không dấu (nam, đô)
􀳦 (Thíc ca)
(thầi phù thũi)
? (chúa cả)
~ (giỗ)
. (vĩnh tộ)


Tài liệu thứ hai viết sau 5 năm, một số chữ viết ngày nay giống y như vậy: đức, chúa thanh đô, thầy, Nghệ an, lạy, định … Do đó chúng ta thấy Gasparo d’Amiral ghi âm tiến bộ hơn các giáo sĩ khác, đó cũng là điều dĩ nhiên bởi vì từ tài liệu của Jão Roiz hay Gaspar Luis viết từ năm 1621, đến tài liệu thứ nhất của Gasparo d’Amiral có khoảng cách biệt trên 10 năm.


(còn tiếp)

Tư liệu: Nguồn gốc chữ quốc ngữ (Tác giả: Huỳnh Ái Tông): (1)


Là một người Việt chọn ngôn ngữ (tiếng Anh) làm một nghề để theo đuổi, từ lâu tôi đã rất quan tâm về việc tại sao trong số các nước chịu ảnh hưởng sâu đậm của văn hóa Trung Hóa là Nhật, Hàn và Việt Nam, chỉ có mỗi mình Việt Nam là có sử dụng mẫu tự La tinh để ghi âm tiếng nói của mình. Vấn đề này lại càng hấp dẫn hơn đối với tôi vì gia đình tôi theo đạo Công giáo, và tôi từ nhỏ tôi đã được học rằng chữ quốc ngữ (chữ viết chúng ta đang dùng hiện nay) là do các cố đạo tạo ra - tất nhiên ban đầu để phục vụ mục đích của họ. Điều đáng nói là Việt Nam đã có lúc cấm đạo rất dữ dưới thời các vua nhà Nguyễn, nên chữ quốc ngữ - vốn do các cố đạo phương tây tạo ra trước hết là với mục đích truyền đạo - hẳn phải bị kỳ thị lắm, nhưng không hiểu sao từ một công cụ được xem là của bọn "ngoại bang" dùng để truyền "tả đạo" vào VN, nó lại trở thành ngôn ngữ quốc gia?

Câu hỏi này không chỉ làm tôi tò mò, mà còn là một đề tài nghiên cứu tiến sĩ của một anh NCS người Đài Loan mà tôi đã có dịp gặp vào đầu thập niên 1990 khi VN mới bắt đầu mở cửa. Khi ấy tôi còn ở Khoa Anh của Trường ĐH Tổng hợp cũ, và hay được nhờ để phiên dịch khi có những đoàn nước ngoài vào VN. Anh chàng NCS còn trẻ lắm, chưa đến 30, và mới bắt đầu thực hiện nghiên cứu thôi. Luận điểm của anh ta là VN cũng như Đài Loan đều đã có khởi điểm giống nhau, tức các giáo sĩ phương Tây đến truyền giáo và tạo ra chữ viết theo mẫu tự La tinh để phục vụ việc truyền giáo, nhưng cuối cùng hai nơi có kết quả khác nhau là vì người Việt Nam có tinh thần ái quốc và độc lập dân tộc cao hơn (!) nên đã nhận ra vai trò của chữ quốc ngữ như một công cụ để phục vụ phong trào yêu nước dành độc lập và truyền bá tư tưởng về tự do dân chủ vv. Nghe ra rất thú vị, và tất nhiên đó chỉ là giả thuyết; kết cục anh ta đã nghiên cứu ra sao thì tôi không còn liên lạc để biết. Nhưng dẫu sao cũng là một giả thuyết mà theo tôi là khá có giá trị mà chúng ta cần tiếp tục tìm hiểu.

Hôm nay có một ít thời gian, tôi tìm và đưa về đây một số tư liệu về chữ quốc ngữ để lưu cho mình và chia sẻ với mọi người. Enjoy các bạn nhé!
--------------
Nguồn: http://namkyluctinh.org/a-ngonngu/huynhaitong-quocngu.pdf

A. Đại Cương
Danh từ chữ Quốc ngữ hay chữ Việt, người Việt chúng ta đã dùng từ lâu, mặc dù nó không được chính danh. Bởi vì danh từ chữ Quốc ngữ là danh từ chung, chỉ cho các thứ chữ của một nước, chẳng hạn chữ Nôm ( 1 ) cũng là chữ Quốc ngữ của nước ta, nhưng do chúng ta dùng lâu đã quen, nên danh từ chữ Quốc ngữ để chỉ cho chữ viết chúng ta dùng ngày nay. Chữ nầy thoạt đầu do những vị giáo sĩ Tây phương truyền đạo tại Việt Nam, họ mượn mẫu tự La tinh, ghép lại để ghi âm địa danh và nhân vật địa phương, từ đó nó đã trải qua các thời kỳ hình thành chữ Quốc ngữ, qua quá trình hình thành, nó đã được sự đóng góp của người Việt cũng như người ngoại quốc, phần chính vẫn là người Việt chúng ta.


Sự hình thành chữ Quốc ngữ có thể chia ra làm ba thời kỳ :
* Thời kỳ sáng tạo từ năm 1621.
* Thời kỳ xây dựng năm 1651.
* Thời kỳ phát triển từ năm 1867.


Chúng ta biết rằng, khoảng giữa thế kỷ XVI, lúc ấy nước ta chia thành Nam, Bắc triều. Năm 1533, có giáo sĩ Irigo (I-Nê-Khu), người Âu, theo đường biển vào nước ta ở Đàng Ngoài, tại Nam Định để giảng đạo. Năm 1596, giáo sĩ Diago Advarte đến Đàng Trong ở một thời gian rồi bỏ đi, cho đến năm 1615, giáo sĩ Francesco Buzomi đến lập Giáo Đoàn Đàng Trong (Mission de la Cochinchine), đến năm 1627, giáo sĩ Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes) mới lập Giáo Đoàn Đàng Ngoài (Mission de Tonkin).

Cả hai giáo đoàn nầy đều thuộc Dòng Tên, có một trung tâm truyền giáo ở Áo Môn (Macao – Trung Quốc), vì trước kia người Bồ Đào Nha sang Trung Hoa buôn bán, họ ở bán đảo Schangch’nan thuộc Quảng Châu, vào khoảng năm 1557, có bọn cướp biển trú ẩn ở Áo Môn, thường hay khuấy nhiễu Quảng Châu, nên người Trung Hoa nhờ các thương gia Bồ Đào Nha dẹp bọn cướp biển ấy, sau khi dẹp xong bọp cướp, người Bồ Đào Nha xin phép nhà cầm quyền Trung Hoa cho họ trú ngụ ở bán đảo Schangch’nan và Áo Môn, mỗi năm họ đóng thuế cho chánh quyền Trung Hoa, cho đến thế kỷ XX Áo Môn vẫn còn thuộc Bồ Đào Nha.

Thuở đó, các nhà truyền giáo Tây phương muốn sang Viễn đông, họ đều theo các thương thuyền Bồ Đào Nha, cho nên họ chọn Áo Môn làm trung tâm truyền giáo để hoạt động ở Trung Hoa, Nhật Bản và Việt Nam, nơi ấy có cả một Viện thần học ” Madre de Dieux ” (Mẹ Đức Chúa Trời).

Do đó các giáo sĩ người Âu thường từ Áo Môn sang Đàng Ngoài hay Đàng Trong và ngược lại, họ thường dùng ngôn ngữ Bồ Đào Nha để giao dịch với nhau, những phúc trình truyền giáo hay thư từ gửi về La Mã có khi họ viết chữ Bồ, có khi họ viết chữ La Tinh.


B. Sự Hình Thành Chữ Quốc Ngữ

I.- Thời Kỳ Sáng Tạo Chữ Quốc Ngữ
Không phải chữ Quốc ngữ hình thành do sự ngẫu nhiên từ những chữ phiên âm tiếng Việt, thực ra chữ Quốc ngữ hình thành theo hướng chung của các giáo sĩ Tây Phương, họ muốn La Tinh hóa các chữ Á Đông nằm trong địa bàn truyền giáo của họ.

Thật vậy, tại Trung Hoa, Hoa ngữ được các nhà truyền giáo dùng mẫu tự La Tinh phiên âm trước nhất, công việc nầy do hai giáo sĩ Dòng Tên là Micac Ruggieri và Matteo Ricci đã soạn quyển Ngữ vựng hay Tự vựng Bồ-Hoa, quyển nầy mỗi trang chia làm 3 cột : chữ Bồ, chữ Hán, phiên âm Hoa ngữ, tài liệu nầy soạn khoảng năm 1584-1588, bảng viết tay còn lưu trử tại văn khố Dòng Tên ở La Mã (Rome).

Năm 1598, giáo sĩ Ricca và Cateneo đã dùng ký hiệu để ghi các thanh Hoa ngữ.

Tại Nhật Bản, các tác phẩm chữ Nhật đã được La tinh hóa, từ năm 1592 đến năm 1596 có đến 10 tác phẩm loại nầy được in ra, hai tác phẩm quan trọng sau đây đáng được nhắc đến:
 

1) Cuốn Giáo lý ghi bằng tiếng Nhật theo mẫu tự La Tinh có tên là : Dotrina Jesus no Compania no Collegio Amacusa ni voite superiores no vou xi no comuni core no fan to nasu mono nari, Nengi, 1592.

2) Cuốn tự điển La – Bồ – Nhật: Dictionarium latino lusitanicum ac Japonium (In Amacusa in Collegia Japonico Societa Jesus, Anno 1595). Ngoài ra còn có sách ngữ pháp Nhật được in theo mẫu tự a, b, c vào năm 1603-1604.

Tại Việt Nam, thời kỳ sáng tạo chữ Quốc ngữ có thể chia ra làm 2 giai đoạn :
* Giai đoạn phiên âm.
* Giai đoạn cấu tạo câu.

1. Giai đoạn phiên âm
Về nguồn gốc, có lẽ câu sau đây là một dòng chữ xuất hiện đầu tiên, trong tiến trình hình thành chữ
Quốc ngữ.

” Con gno muon bau tlom laom Hoalaom chian “.
Câu nầy, theo giáo sĩ Christofora Borri ( 2 ), là câu mà các giáo sĩ đàng trong đã dùng trước khi ông có mặt tại đây, nó có nghĩa là : Con nhỏ muốn vào trong lòng Hoa Lang chăng ?

Danh từ Hoa Lang, không rõ do đâu mà có, nhưng đó là danh từ do người Việt Nam thời bấy giờ dùng để chỉ cho người Bồ Đào Nha, và sau đó được dùng để gọi chung các nhà truyền giáo Tây Phương.

Như vậy câu trên là câu các nhà truyền giáo Tây phương muốn hỏi một người Việt rằng : ” Muốn vào đạo Thiên chúa chăng ? “ Vì lẽ câu nói không diễn tả được rõ ý nên Linh mục Buzomi đã sữa lại như sau : ” Muon bau dau Christiam chiam ? “ ( Muốn vào đạo Christiang chăng ?).

Đây là câu trích trong quyển sách của Christoforo Borris xuất bản năm 1631 tại La Mã, viết bằng chữ Ý ( 3 ). Tuy vậy, chúng ta có thể coi những chữ phiên âm trong sách nầy đã được ông dùng trong thời gian từ 1618 đến 1621, là thời gian ông sống ở Đàng Trong.

Phiên âm : Nghĩa
Anam : An Nam
Tunchim : Đông Kinh
Ainam : Hải Nam
Kemoi : Kẻ mọi
Cacciam : Cả chàm (Kẻ Chàm)
Sinunua : Xứ Hóa ( Thuận Hóa)
Quamguya : Quảng Nghĩa
Quignin : Qui Nhơn
Dàdèn, lùt : Đã đến lúc
Scin mocaij : Xin một cái
Chià : Trà
Cò : Có…..


Onsaij : Ông sãi
Quanghia : Quảng Nghĩa
Nuoecman : Nước mặn
Da, an, nua : Đã ăn nữa,
Da, an, het : Đã ăn hết
Omgne : Ông nghè
Tuijciam,biet: Tui chẳng biết
Onsaij di lay : Ông Sãi đi lại
Bàncò : Bàn Cổ
Maa : Ma
Maqui, Macò : Ma quỉ, ma quái
Bũa : Vua Chiuna : Chúa
Bản phúc trình của Linh mục João Roig viết bằng chữ Bồ Đào Nha tại Áo Môn ngày 20-11-1621, để gửi về La Mã, trong ấy có phiên âm vài danh từ như sau :
An nam : An Nam
Sinoa : Xứ Hóa
Usai : Ông Sãi
Ungne : Ông nghè
On trũ : Ông trùm
Ca cham : Ca chàm ( kẻ chàm, tức Thanh Chiêm, thủ phủ Quảng Nam Dinh, thời ấy dân chúng gọi là Cả Chàm hay Dinh Chàm)
Nuocman : Nước Mặn
Bafu : Bà phủ
Sai Tubin : Sãi Từ Bình ( ? )
Banco : Bàn Cổ
Oundelinh : Ông Đề Lĩnh

Cùng năm ấy, Linh mục Gaspa Luis cũng viết một bảng tường trình bằng La văn tại Áo Môn ngày 12-12-1621 gửi cho Linh mục Mutio Vitelleschi ở La Mã, để báo cáo về giáo đoàn Đàng Trong, trong ấy có dùng vài phiên âm :
Cacham : Kẻ chàm
Nuocman : Nước Mặn
Ongne, Ungué : Ông nghè
Bancô : Bàn Cổ

Đến ngày 16-6-1625, giáo sĩ Đắc Lộ có viết một lá thư bằng Bồ văn gửi cho Linh mục Nuno Mascarenhas, trong ấy có vài phiên âm :
Ainão : Hải Nam
Tunquim, Tunquin : Đông Kinh

Thêm một tài liệu khác Gaspar Luis viết bằng La văn ngày 1-1-1626 tại Nước Mặn để gửi cho Linh mục Mutio Vitelleschi ở La Mã, trong ấy có phiên âm một số địa danh và danh từ:
Fayfó : Hải phố (Fayfo : Hội An)
Cacham : Kẻ chàm

Nuocman : Nước Mặn
Pullocambi : ?
Dinh cham : Dinh chàm
Quanghia : Quảng Nghĩa
Quinhin : Qui nhơn
Ranran : Ran ran ( tức là sông Đà Rằng ở Phú Yên)
Bendâ : Bến đá
Bôdê : Bồ đề
Ondelimbay : Ông Đề Lĩnh Bảy
Ondedoc : Ông Đề đốc
Unghe chieu : Ông nghè Chiêu
Nhit la khaun, khaun la nhit : Nhứt là không, không là nhứt


Và Linh mục Antonio de Fontes người Bồ Đào Nha, đã có đến ở Đàng Trong năm 1624 và Dinh Chàm với Linh mục Pina và Đắc Lộ, cũng ngày 1-1-1626, Linh mục Fontes viết tại Hội An một bản tường trình bằng Bồ văn gửi cho Linh mục Mutio Vitelleschi là Bề Trên Cả Dòng Tên ở La Mã, bảng tường trình nầy gồm có 3 phần, trong ấy cũng cho chúng ta biết thuở ấy giáo đoàn Đàng Trong có 3 cơ sở: Hội An, Kẻ Chàm (Quảng Nam) và Nước Mặn (Qui Nhơn). Trong bảng tường trình nầy, có các phiên âm :
Digcham : Dinh Chàm
Nuocman : Nước Mặn
Quinhin : Qui Nhơn
Sinua, Sinuâ : Xứ Hóa
Orancaya : ?
Quan : Quảng (Quảng Nam)
Xabin : Xá Bình ?
Bếndá : Bến đá
Bude : Bồ đề
Ondelimbay: Ông Đề Lĩnh Bảy
Ondedóc : Ông đề đốc
Onghe Chieu : Ông nghè Chiêu
Nhít la khấu, khấu la nhít : Nhứt là không, không là nhứt
Dinh Cham : Dinh Chàm
Sinóa : Xứ Hóa

Ngày 13-7-1626, Linh mục Francesco Buzomi viết một lá thư chữ Ý gửi cho Linh mục Mutio Vitelleschi, cách phiên âm có tiến triển phần nào, vì các danh từ ghi theo đơn âm như ngày nay, các chữ phiên âm trong bức thư nầy gồm có:
Xán tí : Xán tí (Thượng đế)
Thiên chu : Thiên chủ (Thiên chúa)
Thiên chũ xán tí : Thiên chủ thượng đế
Ngaoc huan : Ngọc hoàng

Cho đến năm 1631, có thêm hai tài liệu của Đắc Lộ: một vào ngày 16-1-1631, ông có viết một bức thư gửi cho Linh mục Nuno Mascarenhas ở La Mã , trong ấy chỉ tìm thấy có một chữ phiên âm Thinhũa : Thanh Hóa, và một bản văn khác thuật lại việc ông cùng Linh mục Pedro Marques tới cửa Bạng (Thanh Hóa) vào ngày 19-3-1627 cho đến lúc Linh mục Antonio F. Cardin đến Thăng Long ngày 15-3-1631 (trong chuyến đi ấy, có các Linh mục Gasparo d’Amiral, André Palmeiro, Antonio de Fontes), tài liệu nầy gồm 2 trang rưỡi chữ, viết trên giấy khổ 16 x 23 cm, trong ấy chỉ phiên âm có mấy chữ :
Sinoa : Xứ Hóa (thuận Hóa)
Anná : An nam
Sai : Sãi
Mía : Mía ( nhà tạm trú)

Những tài liệu phiên âm trên, cho chúng ta thấy phần nào sự manh nha hình thành chữ Quốc Ngữ
trong các năm từ 1621 đến năm 1631. Trong mười năm đó, chúng ta thấy sự phiên âm không mấy tiến triển, chưa có sự thống nhất nào cả, chẳng hạn như danh từ xứ Hóa, họ đã phiên âm :
Sinoa (Jão Roig 20-11-1621)
Sinua, Sinuâ, Sinoá (Antonio de Fontes 1-1-1626)
Sinoa (Đắc Lộ 1631)
Danh từ Ông Nghè :
Omgne (Christoforo Borri 1618-1621)
Ungne (Jão Roig 20-11-1621)
Ongne, Ungué ( Gaspar Luis 12-12-1621)
Unghe (Gaspar Luis 1-1-1626)
Onghe (Antonio de Fontes 1-1-1626)



(còn tiếp)

Thứ Sáu, 18 tháng 10, 2013

Khi nào Trung Quốc có thể thực sự trở thành siêu cường? (tư liệu dịch)

Sự vươn lên mạnh mẽ của Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong vài thập niên vừa qua để trở thành một nền kinh tế đứng thứ hai sau Hoa Kỳ đã làm cho cả thế giới kinh ngạc và thán phục. Tuy nhiên, những thành tựu trong phát triển kinh tế của Trung Quốc không phải là không có mặt trái của nó, trong đó có những tác hại ghê gớm về môi trường, về các chính sách xã hội, và đặc biệt là về mối quan hệ giữa chính phủ và dân chúng - tất cả đang đe dọa làm chậm lại sự phát triển của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới này.

Xin giới thiệu với bạn đọc một bài phân tích về cái giá phải trả cho việc phát triển kinh tế tại Trung Quốc của một học giả người Anh gốc Trung Quốc vừa đăng trên tờ London Evening Standard của Anh ngày 14/10/2013. Những phân tích của tác giả không chỉ có tác dụng cảnh báo đối với Trung Quốc mà còn đúng cho cả Việt Nam trong giai đoạn phát triển hiện nay,  vì nhiều vấn đề mà Trung Quốc đã và đang đối mặt gặp phải cũng là những vấn đề của chính chúng ta.

Tựa bài viết do tôi đặt lại; tựa gốc là "TQ không thể là một siêu cường cho tới khi nào dân TQ được tự do".

Nguồn: http://www.standard.co.uk/comment/sir-david-tang-china-wont-be-a-superpower-until-its-people-are-free-8878936.html
--------  
Tốc độ phát triển phi thường của Trung Quốc trong ba thập kỷ vừa qua đã khiến nhiều người tin rằng đất nước này sẽ trở thành một siêu cường của thế kỷ 21, thậm chí một số người còn cho rằng TQ sẽ qua mặt Hoa Kỳ . Bản thân tôi cũng là người Trung Quốc và tôi cũng cảm thấy tự hào về những thay đổi nhanh chóng trong đất nước của tôi, những thay đổi đến mức không còn nhận ra được, kể từ khi tôi bắt dầu giảng dạy tại Đại học Bắc Kinh từ đầu thập niên tám mươi đến nay. Tuy vậy, những điều đó vẫn chưa đủ sức thuyết phục tôi tin rằng Trung Quốc sẽ trở thành bá chủ của thế giới trong thế kỷ 21.

Trung Quốc đang chuyển từ một xã hội nông nghiệp - nông thôn sang một xã hội công nghiệp - đô thị, và quá trình này đang làm cho vấn đề bảo vệ đất canh tác ngày càng trở nên nghiêm trọng. Bình quân mỗi người dân Trung Quốc hiện chỉ có 900 mét vuông đất canh tác trên đầu người , ít hơn đến 40 phần trăm so với mức bình quân toàn cầu. Đáng báo động hơn là nguồn tài nguyên vốn đã hạn chế này lại đang liên tục giảm dần. Nhiều khu vực nông thôn rộng lớn đang bị chính phủ các cấp - cấp quốc gia, cấp tỉnh và địa phương - biến thành các đô thị với lý do là cần phát triển.


Không chỉ là đất đai, mà không khí cũng đang có vấn đề, vì bị ô nhiễm trầm trọng. Chất lượng không khí tồi tệ trên toàn cõi Trung Quốc, đặc biệt là tại các thành phố lớn - là điều mà không ai có thể tranh cãi. Các chỉ số về chất lượng không khí đăng trên trang Twitter của Đại sứ quán Mỹ ở Bắc Kinh vào hồi hè thiệu đã đưa ra những nhận định đại loại như "vô cùng tệ hại" hoặc "không thể dùng chỉ số nào để ghi lại". Ngoài ra, sự ô nhiễm không khí đang tăng rất nhanh do khí độc từ nhà máy luyện kim loại và từ ngành công nghiệp pin. Điều này dẫn đến nhiễm độc chì , một trong những vấn đề sức khỏe phổ biến nhất ở trẻ em: hiện có đến một phần ba số trẻ em Trung Quốc bị nhiễm chì trong máu ở mức cao .


Sau nữa là nước. Những vấn đề nghiêm trọng hiện nay là sự khai thác nước ngầm quá mức dẫn đến mực nước ngầm giảm liên tục. Nguồn nước đang cạn kiệt dần. Việc khai thác các đập nước và các hệ thống thủy lợi khác đã làm ngưng dòng chảy tự nhiên của sông Hoàng Hà, gây nguy cơ hạn hán trên toàn bộ thung lũng. Thậm chí vào năm 1997, vùng hạ lưu sông Hoàng Hà đã ngưng chảy đến 230 ngày trong năm.

Vì vậy, chỉ cần xét đến các điều kiện thiết yếu của cuộc sống  thì đã có thể thấy Trung Quốc  đang phải đối mặt với những vấn đề rất lớn. Những vấn đề này thậm chí lại càng nghiêm trọng hơn vì dân số khổng lồ đến 1,3 tỷ người của Trung Quốc, kèm theo những vấn đề về nhân khẩu học của đất nước này, tất cả đã tạo ra cái mà có lúc người ta ví von là một "cơn bão hoàn hảo".


Trước hết, tổng số dân trong độ tuổi lao động của Trung Quốc chắc chắn sẽ giảm liên tục trong vòng 20 năm tới. Đến năm 2030, chỉ có ba công nhân trẻ để thay thế cho hơn bốn công nhân của thế hệ trước đó. Với một lực lượng lao động giảm đi về số lượng và già hơn về tuổi tác, chắc chắn tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc sẽ không còn giữ được như trước đây.


Thứ hai, Trung Quốc sẽ bùng nổ dân số người cao tuổi trong vòng 20 năm tới . Đến năm 2030, đất nước này sẽ có 240 triệu người từ 65 tuổi trở lên. Số lượng người cao tuổi ngày càng tăng chắc chắn sẽ đặt lên đất nước Trung Quốc một áp lực kinh tế ghê gớm mà chưa có quốc gia có mức thu nhập tương đương đã từng phải đối mặt .


Thứ ba, do chính sách một con với xu hướng ưu tiên có con trai (cùng những số liệu thống kê kinh hoàng về việc tiêu diệt trẻ sơ sinh nữ) , Trung Quốc sẽ có một sự mất cân đối lớn giữa nam và nữ. Tủ số trong năm 2005 đã là 120 bé trai trên 100 bé gái. Hậu quả là có một số lượng ngày càng tăng các thanh niên không thể lập gia đình và trở nên thất vọng.


Thứ tư, chính sách một con cũng có nghĩa là thế hệ này không có nhiều anh chị em , cô dì, chú, bác, cũng không có cháu gái và cháu trai. Với truyền thống tổ chức các hoạt động doanh thương dựa trên quan hệ huyết thống của Trung Quốc, chắc chắn thành tựu kinh tế của nước này sẽ bị ảnh hưởng.


Nhưng có lẽ câu hỏi quan trọng nhất về tương lai của Trung Quốc liên quan đến các lãnh đạo của họ, hoặc đúng hơn là các ủy viên thường vụ Bộ Chính trị. Có rất ít thông tin về việc những nhân vật này lựa chọn cách làm việc cùng nhau như thế nào, hoặc thậm chí là họ đang nghĩ những gì, hoặc đưa ra những quyết định như thế nào. Quá trình đưa ra tất cả các quyết định quan trọng của nhà nước đều không rõ ràng, và điều này tồn tại từ khi thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Quốc vào năm 1949 đến giờ. Chính điều này đã gây nên một nền văn hóa "đâm sau lưng" lẫn nhau giữa những người đang cạnh tranh quyền lực, và quan trọng hơn là nó tạo ra một sự cắt đứt hoàn toàn mối quan hệ giữa chính phủ và dân chúng. Và điều này không bao giờ có thể là cơ sở để xây dựng một quốc gia phát triển thực sự bền vững. 


Những khó khăn của người dân Trung Quốc với tư cách từng cá nhân là rất căn bản. Rất thường xuyên chúng ta thấy có các hội nghị, hội thảo và các bài viết nói về Trung Quốc như một quốc gia - về các tiến bộ đã đạt được, con số tăng trưởng kinh tế , sự gia tăng của tầng lớp trung lưu - nhưng hiếm khi có ai đề cập đến vai trò của các cá nhân.

Khi tôi sống ở Trung Quốc trong thập niên tám mươi đầu tôi đã có cảm nhận rất rõ về sự tồn tại của một lối cai trị bàn tay sắt bọc nhung chiếm ưu thế ở thủ đô. Đó là một cảm giác rất rõ về sự sợ hãi của người dân đối với nhà chức trách. Ba mươi năm sau, tình hình có vẻ ít căng thẳng hơn - nhưng tôi vẫn có thể phát hiện ra cảm giác sợ hãi, hoặc ít ra là bất lực của người dân. Khi người Trung Quốc được hỏi xem họ nghĩ về Đại hội lần thứ 18 của Đảng Cộng sản năm ngoái, câu trả lời của họ là họ không quan tâm bởi vì nó không liên quan đến họ. Tôi nghĩ điều họ có ý nói rằng họ chẳng thể có tác động gì, và vì thế chẳng có lý do gì khiến họ cần quan tâm cả.


Chính là cảm giác sợ hãi này là trở ngại lớn nhất đối với một Trung Quốc đang cố gắng nổi lên như một siêu cường.
Trung Quốc chỉ có thể thực sự trở thành một quốc gia vĩ đại khi đất nước này có được sự trọng dụng nhân tài thực sự trong các cơ quan công quyền, cũng như sự kết nối thực sự giữa chính phủ và dân chúng, cùng với quá trình đảm bảo - dù là dần dần - các quyền tự do cơ bản cho toàn bộ người dân. Chúng ta cần nhìn thấy một đất nước Trung Quốc nơi người dân được sống thoải mái và hạnh phúc mà không phải có sợ hãi đối với chính quyền.

Tôi rất mong nhìn thấy Trung Quốc nổi lên như một siêu cường trong thế kỷ 21. Nhưng vẫn còn đây nỗi sợ hãi và sự bất hạnh bao trùm lên đa số những thường dân. Cách đây 100 Trung Quốc đã trở thành một nước cộng hòa với lời hứa dân chủ - mang lại sự kết thúc cho 4.000 năm cai trị của các triều đại phong kiến. Có thể Trung Quốc sẽ phải cần thêm 100 năm nữa để đảm bảo tự do thật sự trước khi đạt được vị thế siêu cường. Suy cho cùng, 200 năm cũng là khoảng thời gian mà nước Mỹ đã phải bỏ ra để trở thành một siêu cường từ một khởi đầu nghèo khó.

Thứ Tư, 9 tháng 10, 2013

Tư liệu: Phan Bội Châu tham quan trường Dòng Chúa Cứu Thế (Báo Tiếng Dân, 1936)

Tình cờ tôi đọc được bài này trên fb của người quen, thấy đây là tư liệu lịch sử quý và hiếm nên chép về đây, vừa là lưu cho mình, vừa phổ biến cho mọi người biết. Enjoy các bạn nhé!
-------------
THAM QUAN TRƯỜNG DÒNG CHÚA CỨU THẾ NGÀY 27-05-1936

…Khi Châu mới vào cửa, lên tới thềm, bấm chuông cửa, sau nửa phút đồng hồ, thì thấy một người học trờ ở trong ra, đưa Châu lên phòng trên lầu, Châu vừa vào tới nơi, thời cha H, Ngài liền đứng dậy bắt tay, mời Châu ngồi, trên sắc mặt ra cái vẻ xuân phong hào khí, vừa nghiêm túc vừa ôn tồn, phảng phất như toàn bức tinh thần của nhà tông giáo phát hiện ra trước mặt Châu.

Sau nửa phút đồng hồ ngài với Châu ngồi đối diện, liền nhả lời vàng ngọc mà nói với nhau. Châu rằng: “Cụ lấy tư cách một nhà văn nhân học sĩ, tới viếng trường Dòng này, tôi rất mực hoan nghênh. Bởi vì tư cách nhà văn nhân trái hẳn tư cách nhà chính trị. Của Đức Chúa Trời chẳng bao giờ từ tạ văn nhân, mà lại rất vui lòng cho những bậc văn nhân thưởng thức”.

Tôi trả lời: “Vâng! Tôi vào tham quan nhà này có hai mục đích chính:
Một là: muốn biết tinh thần bác ái của nhà tông giáo.
Hai là: muốn nếm được chân lí, chắc Ngài cũng sẵn lòng chỉ dẫn cho tôi”.
Ngài rằng: “Tốt lắm! Tốt lắm! Nay tôi xin dẫn Cụ đi xem”.
Tôi đáp: “Vâng! Tôi thiên vạn cám ơn. Ngày này thiệt là ngày vinh hạnh của đời tôi”

Đoạn rồi Ngài lấy tư cách của chủ nhân dẫn tôi đi xem khắp ba tầng lầu. Bắt đầu xem ở Cung thánh, đến phòng dạy, phòng ăn, phòng ngủ, đến phòng diễn thuyết, phòng thầy tu. Trong các phòng quy mô rất thanh khiết, vừa chỉnh đốn vừa khang trang.


Đoạn rồi Ngài cùng vị giảng sư đưa tôi lên sân lộ thiên ở tầng trên, sân này là một chốn thường làm rất thanh cao, rộng rãi, tô bằng xi măng nhuốm sắc vàng, vừa khoan khoái vừa bình thản tưởng như những lúc trăng trong gió mát, mây tạnh trời quang, mà đặt chân vào trên sân này, thời in như đứng vào trong bức kính đồng. Tứ bề nước biếc non xanh, thảy ánh vào trong đôi cặp mắt, cảnh Tiên cõi Phật, e chẳng gì tốt hơn! Nhưng tiếc quá, lúc đó đương khi sau mùa hạ, mặt trời còn nép nấp ở trong đám mây mù, khiến cho kém bớt mấy phần hứng vị.

Ở trong lúc tham quan các phòng, mà khiến cho tôi được phần lợi ích riêng, là khi vào xem tàng thư viện. Trong viện đủ các thứ sách: sách chữ Tây, sách chữ Tàu, sách chữ Nam, thứ sách gì cũng có, mà người quản lí ở trong viện, lại là người tôi đã có duyên tương thức một lần, là ông cố G, cữu biệt trùng phùng cảm tình sâu đậm. Ông cho tôi mượn hai bản sách, bổ thêm óc chân lí cho tôi rất nhiều, tôi cám ơn về phần riêng ông nhiều lắm.

Kể từ khi bắt đầu vào nhà, cho đến lúc thăm bàn thờ Đức Mẹ, được thấy các việc trong ngoài, phúc con mắt của Phan Bội Châu, thật quá chừng đội ơn Chúa.

Ấy là đại lược đầu đuôi ở trong cuộc tham quan trường Dòng Cứu Thế. Về mặt hình thức thì biểu hiện ra những quy mô khoan bình thanh nhã, mà nhất là về mặt tinh thần, biểu hiện ra cái thái độ hòa bình nhân ái. Vì thế bắt buộc tôi phát sinh ra mấy mối cảm tưởng sau đây:

Mối cảm tưởng rằng thứ nhất là thấy trường Công Giáo trọng tinh thần mà không trọng vật chất, trọng thành ý mà không trọng hư văn. Bởi vì khi cha H, Ngài tiếp tôi vẫn dùng bằng lễ tân chủ, nhưng thuốc không, trà không, mà bánh rượu cũng không, nhất thiết những hình thức giả toàn là không ráo. Nhưng mà ở trong đôi tròng con mắt, biểu hiện ra cái vẻ rất nhân từ, mà quý hóa nhất lại là những nụ cười rất tự nhiên hòa nhã, những tiếng nói rất chân thành, thật thà.

Sách Nho có câu rằng: “Bất thành tắc vô tật, cố quân tử thành chi vi quý“, nghĩa là: Hễ việc gì không ý chân thật, thời có việc ấy mặc dầu cũng in như không. Cho nên những bậc quân tử rất quý trọng ở đạo thành.
Mối cảm tưởng thứ hai là rõ được đạo thờ Trời ở trong Công Giáo rất phù hợp với chân lí trong đạo Nho xưa.

Sách xưa có câu rằng: “Tế như tại, tế thần như thần tại“, nghĩa là hễ tế lễ Trời hay tế Thần, phải thường thường nhất tâm thành kính, như có Trời có Thần ở bên mình vậy. Chẳng một phút đồng hồ nào, mà quên lững Trời với Thần thế mới là tế.


Nay tôi được cung chiêm bàn thờ thánh ở trong trường nhà Dòng. Thấy nghiêm túc quá mà chẳng thấy phiền vãn, thấy cung kính mà chẳng thấy lễ vật. Ngọn đèn cây nến, biểu hiện ra cái vẻ quang minh, xem lễ đọc kinh, tỏ ra cái tính hòa mục, ngoài bấy nhiêu hình thức, chẳng thấy gì là mùi tục. Thế chẳng phải là tế như tại hay sao? Thật ta nên cảm phục.
Ấy là hai mối cảm tưởng như trên kia, chính vì một giờ đồng hồ tham quan nhà trường Cứu Thế.

(Báo Vì Chúa số 3, ngày 2-10-1936)

TRẢ LỜI VỀ “CÂU CHUYỆN TÔN GIÁO”

LTS: Tháng trước đây có người trong Giáo đồ mời cụ Sào Nam chơi nhà trường Cứu Thế. Sau đó Cụ có viết một bài, tỏ lời khen ngợi tôn chỉ đức Giáo Chủ…. Nhân đó, có tiếng truyền nhau rằng cụ Sào gần đây theo Giáo. Nhiều người viết thư lại bản báo hỏi. Bản báo kể lại với Cụ. Cụ đã viết trả lời như sau:

Đối với tôn chỉ các Giáo, như “Chúng sinh bình đẳng”, và “Kiêm ái chúng sinh”, chuyên một mục đích “Xả thân cứu thế” như đạo Chúa, đạo Phật, khi nào Cụ cũng tôn kính quý chuộng. Chính hồi Cụ Đông độ đã có nhiều bạn giáo đồ là đồng chí.


Vậy đối với tôn giáo, vẫn tôn kính các giáo lí hợp với nhân đạo đó, chứ không phải mê tín đem hương hoa cầu nguyện hay là tin cái thuyết “xuất thế” như ai đã tưởng.

(Tiếng Dân ngày 31-12-1936)

Theo Phan Bội Châu Toàn Tập – Tập 7 Văn xuôi 1925-1940 – Trang 504-507


Nguồn: https://www.facebook.com/nguyenchiducvpcp/posts/241642045991000
-----------------------------------
Khuyến mãi: Xin các bạn đọc phần nhận xét của anh GNLT về tài liệu ghi lại cuộc gặp gỡ trên.

Lãng tử đã đọc tài liệu. Nhận thấy cụ Phan sau khi tham quan nhà Dòng đã tâm đắc cách tế lễ giản dị, thành kính…(cụ ngầm so sánh với những cuộc tế lễ hoành tráng rượu thịt tràn đầy ở những lễ lạt tôn giáo khác - cụ không dám nêu đích danh e đụng chạm)- Đó là nét ưu việt của nhà Dòng mà bước đầu cụ ghi nhận.

Đặc biệt cụ Phan dẫn lời cổ nhân, cụ gọi là “Sách xưa”, thực ra là Luận ngữ (Khổng tử) nhưng cụ cũng không dẫn đích danh, có lẽ bởi đương thời, Nho giáo đang tàn lụi (báo Tiếng Dân năm 1936 rồi mà), Tây học đang lấn sân… Xin trích nguyên gốc câu văn cụ Phan đã dẫn:

Thiên 3 “Bát dật” (Luận ngữ) bài 12.

3.12 

祭如在,祭神如神在。子曰:吾不与祭,如不祭 。

Tế như tại, tế thần như thần tại. Tử viết: Ngô bất dự tế, như bất tế.

Lời bàn: Tế lễ cha mẹ phải coi như người đó ở trước mặt mình, tế lễ chư thần cũng coi như thần linh ở trước mặt mình. Khổng tử nói: Nếu ta không tham dự lễ tế (có người thay mặt ta tế lễ đi nữa) thì cũng như không tế lễ mà thôi.

Câu văn trên tiêu biểu cho cổ văn (câu tĩnh lược, thiếu thành phần).

Cụ Phan nhà nho-cách mạng uyên bác, khi bị an trí ở Huế, cụ giao thiệp với nhà giáo Đào Duy Anh cũng dạy học ở đó, lúc ấy cụ Đào đang biên soạn công trình thế kỷ “Từ điển H-V”, soạn xong, đưa bản thảo cụ Phan xem góp ý duyệt (nhuận sắc). Cụ Phan đọc và để lại lời ĐỀ TỪ trên bản thảo ước 800 chữ (năm 1931) với bút danh độc đáo: “Hãn Mạn tử”

Khoảnh khắc 2: Bài thơ dịch lúc trời mưa

Lạ quá, cứ mỗi khi trời mưa thì tôi lại có hứng dịch thơ. Hoặc làm thơ nữa, nhưng lúc này thì chắc tại già, hết sức sáng tạo rồi, nên chỉ còn có thể dịch mà thôi!

Sáng nay thì trời Sài Gòn mưa tầm tã. Mưa sáng bao giờ cũng làm cho người ta ngủ ngon, ngủ nướng. Nhưng sáng nay thì mưa gió ầm ầm, khiến tôi phải thức giấc. Bước ra sân, mưa gió tơi bời, hoa rụng tả tơi ... (lại nhớ bài thơ Xuân hiểu: Trong đêm nghe mưa gió đến/Biết bao hoa lá rụng rơi ...).

Mưa tơi tả, mà con gái thì phải đi học sớm. Giờ học của trẻ em VN - bắt đầu lúc 6:45 - quả tình là "man rợ" (barbarian), ấy là nói theo lời của một anh Thụy Sĩ trước đây tôi có quen, anh chàng Tim gì đó, làm ở tổ chức Terre des Hommes, khi tôi mời anh ta tham gia làm giám khảo của một kỳ thi tiếng Anh của Cambridge, trong đó anh ta phải bắt đầu làm việc ngày chủ nhật lúc ... 8:30 sáng!

Không nỡ để cho con đi xe đạp một mình trong cơn mưa tầm tã nên ông xã tôi đã chở con đi học - cũng là yêu cầu của cô bé. Nên hai bố con đi sớm, còn lại tôi một mình ở nhà trong cơn mưa xối xả, đọc ... "phây" (tức là facebook ấy ạ).

Đọc được một Note của một chị bạn về Sài Gòn mưa, rất hay, có câu (sửa lời của nhạc sĩ TCS), "Ngoài phố trời mưa, đôi tay anh là bếp lửa hồng". Lúc này trời vẫn đang mưa to, tiếng mưa rơi xầm xập như tiếng máy dệt mà trước đây tôi hay nghe thời thập niên 80 khi còn ở quận Tân Bình gần làng dệt. Ở nhà một mình lạnh lẽo, "ngoài phố trời mưa, đôi môi ai là đốm lửa hồng" đây?

Tự nhiên bâng khuâng một chút .... Và rơi vào tâm trạng muốn làm thơ, dịch thơ.

Kỳ may là cầu được ước thấy! Số là trên trang "phây" của tôi - vốn có linh tinh đủ thứ - có chế độ nhận tin mới từ trang thơ của một Hội yêu thơ, trang poetryfoundation.org. Ai yêu thơ giống tôi thì nên vào trang này, ở đó có nhiều bài rất hay.

Như bài của hôm nay, mà đọc xong thì tôi thấy rất lạ, rất thú vị, rất ... liêu trai chí dị.

Thế là cao hứng dịch luôn, thề có trời đất, chỉ trong vòng vài phút. Thì bài thơ dùng ngôn ngữ quá mộc mạc đơn giản mà lại, không những thế, nó là thơ tự do, nên có cần phải tìm vần điệu gì đâu. Mà quan trọng hơn cả, nó lại trúng ngay tâm trạng vẩn vơ của tôi lúc ấy - mưa, lạnh, ướt, phố mùa đông, đốm lửa hồng, đôi môi, bàn tay ấm ...

Bài thơ ấy đây, và bản dịch của tôi:


The Pool

By H. D.

Are you alive?

I touch you.

You quiver like a sea-fish.

I cover you with my net.

What are you—banded one?

Hồ cá

Tác giả: H. D. 

Em vẫn sống, phải không?

Ta chạm vào em.

Em quẫy nhẹ như loài thủy quái.

Ta giăng lưới vây em.

Em là gì, ơi con cá sọc dưa?


Giải thích và bình luận thêm chút:

- Câu thứ tư của bài thơ nếu dịch chính xác thì phải là "em quẫy nhẹ như loài cá biển", nhưng tôi vẫn thích dùng từ thủy quái để cho nó ... liêu trai, như cảm giác của tôi khi đọc bài thơ.

- Câu thứ năm, ban đầu tôi dùng từ "quăng lưới" nhưng thấy từ "quăng" có vẻ mạnh bạo quá, nên đổi lại thành "bỏ lưới" (cũng có thể dịch là "buông lưới", nhưng không hiểu sao tôi muốn dùng từ "bỏ" để có chút hiệu ứng âm thanh - vần trắc thay vì vần bằng, cho nó ... trúc trắc chút, chắc là để thấy mọi việc có chút gi trắc trở!!!

Khi dịch xong, tôi gửi cho một người bạn vốn là thầy giáo dạy Văn, và được góp ý ngay đúng từ "bỏ lưới", "buông lưới", "quăng lưới" đó. Người bạn ấy bảo: Mình muốn đổi thành "phủ lưới". Cho nó ... sexy, hi hi!

Rồi, văn chương phú lục đã xong rồi! Trời cũng đã hết mưa, tôi thay quần áo đi làm. Trời vẫn ẩm ướt, đường lội lướt thướt .... Nhưng trong lòng tự nhiên có một chút vui vui, cái vui do bài thơ và  cũng do dịch được bài thơ ấy.

Và lại nhớ một câu nói của bà chị tôi năm xưa, một buổi chiều khi hai chị em ngồi trông cửa hàng, khoảng 4 giờ chiều, chợ hơi vắng, bụng hơi đói, người hơi mệt .... Bà chị tôi bảo tôi ngồi đó trông cửa hàng, và bà ấy đi một lúc thì mang về cho tôi một bịch đồ ăn, hình như là khoai mì hay là gỏi cuốn gì đó (không nhớ rõ), bà chị tốn vài đồng (vài chục?) cho cả hai người , rất rẻ. Bụng đói, ngồi buồn, đồ ăn vừa miệng, tự nhiên thấy ... đời rất đẹp.

Và chị tôi "tuyên bố" một câu - tất nhiên là đùa - nhưng đầy vẻ triết lý mà sau này tôi nhớ mãi vì thực ra nó cũng là chân lý: "Hạnh phúc thực ra rất rẻ!"

Ừ, để có hạnh phúc thực ra đâu khó lắm, phải không? Nếu ta biết count your blessings như trong tiếng Anh người ta thường nói. Và đó là lý do tại sao tôi chép lại những khoảnh khắc này. 

Những khoảnh khắc của tôi .... I am counting my blessings, you know!
-----
PS: Cái từ "bỏ lưới" của tôi bị nhiều người phê bình quá, có người còn hỏi có phải là tôi muốn nói "vứt bỏ" hay không! Thôi thì tôi "tiếp thu ý kiến", sửa nó lại thành "giăng lưới" vậy. "Giăng" không phải là vần trắc, nhưng mà nghe cũng ... vướng víu, khó khăn, là ý mà tôi muốn đưa vào bản dịch. Vậy thì bạn ơi, "tôi giăng lưới vây em" đấy nhé!

Thứ Sáu, 4 tháng 10, 2013

Hát cho người nằm xuống ...

Vậy là Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã qua đời....

Tin tức về cái chết của ông được lan truyền từ khoảng 7 giờ tối trên fb của tôi. Mọi người bán tín bán nghi, vì tin đồn này đã mấy lần rồi. Sau đó thì thấy thông tin này được đưa trên blog của một vài blogger thạo tin. Cũng vẫn còn nghi nghi hoặc hoặc. Rồi lại đến đài nước ngoài như RFA, VOA .... Đến lúc này thì mọi người bực khi thấy truyền thông nhà nước vẫn im ắng. Sao lại thế này được, truyền thông nước ngoài họ nhạy như thế, còn mình thì chậm như rùa....

Rồi đến lời xác nhận của một số facebooker "có máu mặt", đáng tin cậy. Còn nêu cả nguồn tin: tin từ Hội Sử học, nơi Đại tướng VNG làm chủ tịch danh dự. Thôi, thế là đúng rồi đấy.

Cũng không có gì là quá đột ngột. Năm nay ông đã 103 tuổi rồi (à, ông hơn tôi đúng 50 tuổi đấy ạ. Tôi với ông có cùng ngày sinh, hân hạnh thế!). Thậm chí, từ năm ông 100 tuổi, cứ lâu lâu người ta lại nghe tin đồn rằng ông ... vừa mất.

Cuối cùng thì ông cũng đã ra đi. Cùng với tất cả những ký ức về một thời bom đạn triền miên.

Xin tiễn ông với bài hát của cố nhạc sĩ TCS, dù nó đã được làm để tặng một người bên kia chiến tuyến của ông. Nhưng có hề gì ông nhỉ, khi người ta đã nằm xuống ...

Anh nằm xuống sau một lần đã đến đây
Đã vui chơi trong cuộc đời nầy
Đã bay cao trong vòm trời đầy
Rồi nằm xuống, không bạn bè, không có ai
Không có ai, từng ngày, không có ai đời đời
Ru anh ngủ vùi, mùa mưa tới trong nghĩa trang này có loài chim thôi!

Anh nằm xuống cho hận thù vào lãng quên
Tiễn đưa nhau trong một ngày buồn
Đất ôm anh đưa vào cội nguồn
Rồi từ đó, trong trời rộng, đã vắng anh
Như cánh chim, bỏ rừng, như trái tim bỏ tình
Nơi đây một lần, nhìn anh đến những xót xa đành nói cùng hư không!

Bạn bè còn đó anh biết không anh?
Người tình còn đó anh nhớ không anh?
Vườn cỏ còn xanh, mặt trời còn lên
Khi bóng anh như cánh chim chìm xuống.
 

Vùng trời nào đó anh đã bay qua?
Chỉ còn lại đây những sáng bao la
Người tình rồi quên, bạn bè rồi xa
Ôi tháng năm, những dấu chân người cũng bụi mờ.

Anh nằm xuống, như một lần vào viễn du
Đứa con xưa đã tìm về nhà
Đất hoang vu khép lại hẹn hò
Người thành phố, trong một ngày, đã nhắc tên
Những sớm mai, lửa đạn những máu xương chập chùng

Xin cho một người vừa nằm xuống thấy bóng thiên đường cuối trời thênh thang!

Lời bài hát thật xót xa quá.... Xót xa cho tất cả những người đã nằm xuống trong cuộc binh lửa đau thương ấy. Nhưng thôi, rồi thì mọi sự cũng đã qua rồi. Qua rồi những hận thù, những lửa đạn, những máu xương....

Cầu mong cho ông được bình yên trong cõi vĩnh hằng, được thấy bóng thiên đường cuối trời thênh thang, thưa Đại tướng!
---------
Mọi người nghe bài hát này qua giọng ca tuyệt vời của Khánh Ly ở đây nhé, đây là bản thu trước năm 1975:
http://www.youtube.com/watch?v=MSzbNCKgDYU

Thứ Ba, 1 tháng 10, 2013

Họp mặt bạn bè

Entry này chỉ nhằm lưu lại mấy tấm hình họp mặt bạn bè tối nay mà thôi. Cuộc họp mini chỉ hơn 1 tiếng đồng hồ, ở một nơi không đâu còn có thể thích hợp hơn nữa đối với các bà: khu ăn uống Nguyễn Thiện Thuật, Bàn Cờ!

Hình không chú thích, mọi người tự đoán nhé!