Thứ Ba, 17 tháng 12, 2013

Sài Gòn, tháng mười hai ...

(Bài viết cho báo, gửi đi từ đầu tháng 12, nay đăng lên blog cho bạn bè cùng đọc.)

Sài Gòn, tháng mười hai …

Phương Anh
------------

Sài Gòn, lúc này trời đã hơi lành lạnh. “Lạnh”ở đây là một khái niệm hết sức tương đối, khoảng chừng 24, 25 độ, nói theo cảm nhận của dân Sài Gòn, nơi thời tiết quanh năm nắng ấm. Một nơi không có mùa Đông, như câu thơ đẹp đã được phổ nhạc của một anh lính Bắc khi đón “mùa Xuân đầu tiên” đầy ấn tượng đẹp đẽ ở Sài Gòn sau năm 1975: Anh ở trong này chưa thấy mùa Đông/Nắng vẫn đỏ mận hồng đào cuối vụ....

Tháng 12, những tờ lịch cuối cùng của năm đã sắp rơi xuống hết. Bước ra đường, không khí Giáng Sinh đã tràn ngập. Các cửa hàng, tiệm ăn lớn nhỏ đều thấy đẹp đẽ, sáng sủa hơn, đón chờ một mùa ăn chơi, mua sắm mới. Dù năm 2013 không phải là một năm may mắn và thịnh vượng như những lời chúc tốt đẹp đầu Xuân mà mọi người Sài Gòn luôn hào phóng ban phát cho nhau.

Đã lại thấy xuất hiện, một năm đúng một lần tại Sài Gòn, cảnh mùa đông với thông xanh và tuyết phủ. Những cây thông xanh tươi được vẽ lên, dán lên cửa kính của các cửa hàng, các văn phòng ở khắp nơi. Những cây thông bạc trắng xóa làm bằng giấy kim loại lấp lánh dựng ở khu vực tiếp tân của các văn phòng hoặc đặt nơi sảnh của khách sạn, các trung tâm thương mại sang trọng mà nhữ người dân Sài Gòn một năm chỉ bước chỉ một vài lần, và trong khoảng chừng 5 lần bước vào thì chỉ có một lần mua một món đồ gì đó khi có big sale giảm giá còn dưới 50% so với giá gốc. Những cây thông xanh thẫm quanh những khu bán đồ Noel, những cây thông đắt tiền nhập từ nước ngoài và cả những cây thông “nội địa” rẻ tiền được làm thủ công bằng đôi bàn tay khéo léo của người Việt, với nhánh cây khô, những cọng rơm được tết lại và quét sơn xanh, hơi thô thô, xù xì mà lại tự nhiên hơn, giống thật hơn.

Cây thông ở khắp nơi, năm nào cũng thấy, dù chỉ là cây giả, nên hình ảnh của nó thân thuộc đối với người Sài Gòn như cây dừa, cây chuối. Thậm chí, có lẽ đối với đám trẻ con Sài Gòn thì cây thông còn quen thuộc hơn là cây lúa ở đồng bằng sông Cửu Long, mùa này đang oằn mình trĩu nặng với những hạt lúa chín vàng ôm trong lòng những hạt gạo như những hạt ngọc trắng thơm tinh khiết.

Sài Gòn mùa này ở khu trung tâm Quận 1 có lẽ không khác lắm với những khu thương mại ở Singapore, Malaysia hay Philippines. Tưng bừng một mùa mua sắm, ăn chơi, và chuẩn bị đón mừng năm mới 2014. Nhưng để hiểu được không khí thật của tháng 12 tại Sài Gòn, bạn hãy đi ra khỏi trung tâm để đến những quận xa hơn, ở vùng ven. Vào mùa này, đi về phía Tân Bình, Tân Phú, Gò Vấp, Hóc Môn, những khu lao động nghèo có nhiều người Công giáo, ta mới nhận được đầy đủ cái cảm giác giao mùa.

Có một cái đó gì trong không khí, lúc thì mơ hồ khi lại rõ mồn một, như là sự chờ mong, sự tất tả chuẩn bị cho một sự kiện quan trọng, một ánh lạc quan bừng lên trên những khuôn mặt xạm đen mà ngày thường vẫn chất chứa âu lo. Hình như ông xe ôm cộc cằn bỗng trở nên nhẹ nhàng hơn, bà bán thịt đanh đá nói năng tử tế hơn, và con nhỏ bán rau cau có hàng ngày nay bỗng dễ thương hơn, thỉnh thoảng khi đưa bó rau cho khách còn biết nhoẻn một nụ cười, nhẹ nhàng nhận tiền từ tay khách chứ không giựt phăng thô lỗ làm cho khách chưng hửng như mọi hôm.

Đi qua các xứ đạo, đã thấy các nhà thờ chộn rộn chuẩn bị làm hang đá, ngôi sao. Những buổi lễ chủ nhật dường như đông đủ giáo dân hơn; mọi người ăn mặc có tươm tất hơn, ánh nhìn như tươi vui hơn, dù năm qua chắc chắn là một năm vô cùng vất vả. Sau buổi lễ, thanh niên nam nữ trong giáo xứ chưa vội về nhà mà còn nán lại, nhóm dọn dẹp sân nhà thờ, ngắm nghĩa chỗ đặt hang đá, nhóm lo làm thiệp, trang trí cây thông, các ca đoàn thì lo tập lại những bài hát sẽ hát trong đêm Giáng Sinh, tất cả với một không khí rộn ràng của một mùa lễ hội.

Và những bản nhạc Giáng Sinh đã bắt đầu vang lên rộn rã đó đây. Những bản nhạc cổ điển sang trọng và thánh thiện của nhà thờ phương Tây sáng tác từ cách đây mấy trăm năm nhưng giờ đã hoàn toàn Việt hóa (Đêm thanh nghe tiếng hát của thiên thần …), những bản nhạc do các nhạc sĩ-linh mục Việt sáng tác cho giáo dân Việt mang đậm chất tôn giáo, ca ngợi Thiên Chúa Giáng Sinh (Chúa sinh ra đời nằm trong hang đá, nơi máng lừa/ Trong hang Bê-lem, ánh sáng tỏa lan tưng bừng …) , và cả những bản nhạc của một nền “âm nhạc thị trường” miền Nam trước năm 1975, cả nhạc Tây lẫn nhạc ta, tiếng ta lẫn tiếng Tây (Bài thánh ca đó còn nhớ không em/ Nô-en năm nào chúng mình có nhau …; You’d better not cry I’m telling you why, Santa Claus is coming to town …), tất cả đều có cơ hội vang lên bình đẳng như nhau. Kể cả những bài hát Giáng Sinh mà trong đó có hình ảnh người lính Cộng hòa năm cũ:

Lại một Nô-en nữa/ Mấy mùa Giáng Sinh rồi/ Anh ở đồn biên giới/ Thương về một khung trời./ Chắc Đà Lạt vui lắm …

Không rõ Đà Lạt có vui lắm không, nhưng chắc chắn mùa này Sài Gòn vui lắm. Tháng 12 ở Sài Gòn, mùa Giáng Sinh. Mùa của hy vọng, của niềm tin, của hòa bình. Hòa bình cho thế giới, hòa bình cho những người thiện tâm, hòa bình trong lòng người Sài Gòn, xóa đi mọi vách ngăn chia rẽ. Như trong những câu cuối cùng của bài hát Giáng Sinh đã lừng lẫy một thời trước năm 1975 và sẽ vẫn nổi tiếng mãi mãi về sau:

Cùng cầu cho thế giới/ Cho nhân loại hòa bình/ Cho chúng ta gặp lại/ Trong một mùa Giáng Sinh.

Thương yêu lắm, Sài Gòn tháng mười hai ….

(Viết xong 1/12/2013)

Thứ Tư, 13 tháng 11, 2013

Con gái, con trai (Alice Munro, PA dịch): Kỳ 7 (tiếp theo và hết)

Đọc các kỳ 1, 2, 3, 4, 5, 6 trong các entry trước trên blog này.

------------


Khi tôi trở về nhà, mẹ tôi hỏi, "Nãy giờ ồn ào gì thế?" Tôi trả lời rằng con Flora đã hất cái hàng rào và chạy đi mất rồi. “Tội nghiệp cha mày,” mẹ tôi nói, “giờ thì ông ấy lại phải chạy khắp vùng để đuổi bắt con ngựa ấy”. Thế là không hy vọng được ăn trưa trước 1 giờ rồi. Mẹ tôi đặt chiếc bàn ủi lên bàn. Tôi muốn kể sự thật cho mẹ tôi nghe, nhưng nghĩ sao lại thôi, và tôi đi lên lầu ngồi trên giường ngủ của mình.



Gần đây tôi đã cố gắng sửa sang bài trí cái góc riêng của tôi trong phòng để làm cho nó đẹp đẽ ưa nhìn hơn.Tôi sửa tấm màn cửa bằng ren cũ thành khăn trải giường, tự sửa cho mình một cái bàn trang điểm và còn tận dụng miếng vải cretone bọc nệm còn thừa để may cho mình một chiếc váy. Tôi còn dự định sẽ tạo ra một đường phân cách giữa giường của tôi và của Laird, để giữ cho phần của tôi được tách biệt. Trong ánh nắng, những tấm màn treo cửa bằng ren trông chỉ như những miếng giẻ rách bụi bặm. Chúng tôi không còn hát vào ban đêm như trước đây nữa. Lần đó tôi cất tiếng hát khi nằm trên giường trước khi ngủ như lúc chúng tôi  còn bé thì thằng Laird bỗng nhận xét, "Chị hát nghe ngớ ngẩn lắm,” và mặc dù hôm ấy tôi vẫn hát tiếp như không có gì xảy ra, nhưng những đêm sau tôi đã thôi không hát nữa. Mà thực ra cũng không còn cần thiết: chúng tôi đã không còn sợ bóng tối. Chúng tôi biết ở phía bên kia chỉ là những bàn ghế cũ, những đống giẻ và những thứ lộn xộn khác. Tôi vẫn giữ thói quen thức  và tự kể chuyện cho mình sau khi thằng Laird đã ngủ say, nhưng ngay cả trong những câu chuyện đó mọi thứ bây giờ cũng đã khác, có những điều kỳ lạ, bí ẩn đã diễn ra khác với thời xưa. Những câu  chuyện ấy có thể bắt đầu giống như trước đây, cũng có những điều hiểm nguy kỳ thú,  những đám cháy hoặc động vật hoang dã; nhưng rồi sau đó mọi vật bỗng thay đổi, và thay vì tôi là một vị anh hùng cứu người như ngày xưa thì tôi lại trở thành người được giải cứu. Người cứu vớt tôi có thể là một thằng bé học cùng lớp với tôi ở trường,  hoặc thậm chí là ông Campbell , thầy giáo của chúng tôi , người có thói quen cù léc các cô học trò của mình ở dưới cánh tay. Và đến lúc ấy thì tự nhiên câu chuyện lại có liên quan đến diện mạo của tôi – tóc tai thế nào, quần áo ra sao, và đến lúc tôi đã hình dung ra mọi chi  tiết về diện mạo của mình thì câu chuyện cũng mất hết sự hồi hộp hấp dẫn.

    

 Quá một giờ trưa chiếc xe tải của cha tôi mới trở về. Phía sau xe che tấm bạt – như thế có nghĩa là chiếc xe có chở thịt. Mẹ tôi hâm nóng lại thức ăn. Chú Henry và cha tôi đã cởi bỏ bộ đồ bảo hộ lao động bê bết máu và mặc vào bộ quần áo thường mặc khi làm việc trong nhà kho; họ rửa ráy chân tay mặt mũi và hất nước lên đầu và chải tóc. Thằng Laird cánh giơ tay lên vẫn còn dính máu lên. “Mọi người đã bắn con Flora và xẻ thịt nó ra thành 50 mảnh đấy”, Laird khoe. 

"Thôi đừng nhắc tới chuyện đó nữa”, mẹ tôi bảo. “Rửa chân tay cho sạch đi rồi mới ngồi vào ăn chứ!”


Cha tôi bắt Laird đi ra ngoài rửa cho hết dính máu rồi mới được vào bàn.



Chúng tôi ngồi vào bàn ăn, cha tôi đọc kinh cầu nguyện, còn chú Henry thì nghịch ngợm dán miếng bã kẹo cao su vào cái nĩa như chú vẫn thường làm thế, để khi chú kéo miếng cao su ra thì nó sẽ tạo thành những đường sọc làm chúng tôi thích thú. Chúng tôi bắt đầu chuyển cho nhau những bát rau luộc nhừ còn đang bốc khói. Laird nhìn thẳng vào mặt tôi đang ngồi phía đối diện  và kiêu hãnh nói rõ từng chữ:  “Dù sao,  con Flora chạy đi như thế cũng là do lỗi của chị ấy.”



“Cái gì?” Cha tôi hỏi lại.

“Lẽ ra chị ấy đã kịp đóng cổng nhưng lại không chịu đóng. Chị ấy còn mở cổng cho con Flora chạy ra.”


“Thật à?” Cha tôi nói.


Mọi  người nhìn chằm chằm vào tôi. Tôi gật đầu, nuốt nghẹn thức ăn trong miệng. Tôi cảm thấy hổ thẹn và nước mắt bỗng tuôn ra.



Cha tôi kêu lên một tiếng trong họng với vẻ rất khinh bỉ. “Mày làm như vậy để làm gì, hả con?”



Tôi không trả lời. Tôi ngừng ăn, bỏ cái nĩa xuống và chờ được cho phép rời bàn, mặt vẫn không ngẩng lên.


Nhưng không ai bảo tôi rời bàn ăn cả. Mọi người không ai nói gì một lúc lâu. Rồi Laird bỗng nói một cách bình thản: “Chị ấy khóc kìa.”


“Thôi không sao,” bố tôi bảo. Với một vẻ  dứt khoát  và thậm chí còn hơi vui vẻ, ông thốt lên những lời đối với tôi vừa là lời giải thoát và cũng là lời xua đuổi vĩnh viễn.  “Nó là con gái ấy mà,” ông bảo.


Tôi đã không hề phản đối những lời ấy của cha tôi, ngay cả trong thâm tâm cũng không. Có lẽ cha tôi đã nói đúng.
[1968]