Thứ Hai, 16 tháng 9, 2013

Mười điều ngộ nhận về chủ nghĩa Mác (2, tiếp theo): Chủ nghĩa xã hội không cần tự do dân chủ?

Bài này viết tiếp bài viết trước đó về điều ngộ nhận thứ hai về CN Mác, lấy từ Chương 2 của cuốn sách Vì sao Mác đúng? của GS Terry Eagleton. Xem bài trước ở đây: http://bloganhvu.blogspot.com/2013/09/muoi-ieu-ngo-nhan-ve-chu-nghia-mac-2.html.

Trong bài trước, tôi đã tóm tắt lập luận chính của Eagleton để phản bác điều ngộ nhận phổ biến là "Mác chỉ đúng trên lý thuyết". Lập luận đó như sau: Eagleton đã chứng minh rằng thực tiễn cách mạng XHCN diễn ra không theo lý thuyết của Mác, vì vậy Mác không thể chịu trách nhiệm về thực tiễn không mấy sáng sủa của CNCS ngày nay. Ví dụ, CMXHCN trên thực tế đã diễn ra ở các nước nông nghiệp lạc hậu, trong khi Mác cho rằng CM XHCN phải được tiến hành ở các nước có một trình độ phát triển TBCN nhất định. Trong bài này, tôi sẽ tiếp tục tóm tắt các lập luận khác của Eagleton nhằm chứng minh Mác không sai trên thực tế, sau đó đưa ra những nhận xét hoặc thắc mắc của tôi.

Một điểm khác được Eagleton đưa ra để chứng minh cho sự khác biệt giữa lý thuyết của Mác với việc áp dụng vào thực tiễn trong CM XHCN: Mác không hề cho rằng cách mạng XHCN có thể tiến hành và thành công trên một nước, trong khi những người CS Nga lại tin rằng cần phải tiến hành CM thành công tại một nước trước đã. Xin đọc phần trích dẫn dưới đây:

Nor did Marxists ever imagine that it was possible to achieve socialism in one country alone. The movement was international or it was nothing. This was a hardheaded materialist claim, not a piously idealist one. If a socialist nation failed to win international support in a world where production was specialized and divided among different nations, it would be unable to draw upon the global resources needed to abolish scarcity. The productive wealth of a single country was unlikely to be enough. The outlandish notion of socialism in one country was invented by Stalin in the 1920s, partly as a cynical rationalisation of the fact that other nations had been unable to come to the aid of the Soviet Union. It has no warrant in Marx himself. Socialist revolutions must of course start somewhere. But they cannot be completed within national boundaries. To judge socialism by its results in one desperately isolated country would be like drawing conclusions about the human race from a study of psychopaths in Kalamazoo.

Mác cũng không hề cho rằng CNXH có thể thành công trên một quốc gia riêng lẻ. Cuộc vận động ấy [tức cuộc CM XHCN - chú thích của người dich] cần phải diễn ra trên toàn thế giới, nếu không thì chẳng có gì cả. Lời khẳng định này hoàn toàn duy vật [tức có tính thực tế] chứ chẳng phải là một khẳng định của những người duy tâm mộ đạo. Nếu một quốc gia XHCN không có được sự ủng hộ của toàn thế giới trong một xã hội mà việc sản xuất đã được chuyên biệt hóa cho từng quốc gia, thì rõ ràng nó sẽ không huy động được nguồn lực của toàn thế giới mà nó cần để xóa bỏ sự khan hiếm. Sự thịnh vượng của chỉ một quốc gia sẽ không thể đủ. Cái ý tưởng quái gở về CNXH trên một quốc gia là do Stalin sáng chế ra vào những năm 1920, một phần là vì phải giải quyết cái thực tế rằng các quốc gia khác không thể hỗ trợ cho Liên Xô được. Mác không hề bảo đảm cho điều này. Tất nhiên những cuộc cách mạng XHCN sẽ phải xuất phát từ một vài quốc gia nào đó, nhưng nó không thể thành công nếu chỉ gói gọn trong phạm vi từng quốc gia. Vì vậy, đưa ra lời phán đoán về CNXH bằng cách dựa trên những kết quả mà nó đã đạt được trong một quốc gia bị hoàn toàn cô lập thì chẳng khác nào đưa ra những kết luận về toàn bộ nhân loại dựa trên một nghiên cứu về các bệnh nhân tâm thần của riêng vùng Kalamazoo. 

(Ghi chú:
1. Kalamazoo là một thành phố nhỏ với vài trăm ngàn dân ở phía tây nam của bang Michigan, Mỹ. Xem thông tin ở đây: http://en.wikipedia.org/wiki/Kalamazoo,_Michigan
2. Phần chữ màu đỏ ở trên là phần dịch lại của tôi theo góp ý của anh BHV trong comment thứ 2 bên dưới.)

Đọc đến đây, có lẽ chúng ta phải giật mình vì cách đây mấy trăm năm Mác đã hình dung ra sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia như chúng ta đang thấy trong nền kinh tếtoàn cầu hóa hiện nay. Và điều này có lẽ cũng cho chúng ta một lời cảnh báo về việc liệu có nên giữ khư khư lấy những gì mà chúng ta cho là đặc trưng riêng biệt của nền văn hóa hay thể chế hoặc hệ thống giáo dục hay pháp luật hay gì gì khác mang đặc điểm XHCN của chúng ta hay không.

Phải chăng, chính những quốc gia mà chúng ta đang gọi là tư bản, họ đang ở gần chủ nghĩa xã hội (một CNXH lý tưởng theo lý thuyết của Mác) hơn chúng ta, và cũng sẽ có cơ hội "toàn thắng" hơn chúng ta? Vì họ có cơ sở vật chất tốt, có cộng đồng tốt (toàn cầu), trong khi "khối" XHCN ngày càng teo lại, và những thành tựu về kinh tế, KHKT của ta thì thua xa họ. Vậy nếu chúng ta kiên định con đường đã chọn (như lâu nay) thì liệu chúng ta sẽ đi về đâu?

Lập luận cuối cùng, mà theo tôi là lập luận quan trọng nhất trong chương này, có liên quan đến vấn đề tự do, dân chủ trong xã hội. Như Eagleton đã nêu trong phần tóm tắt của chương 2, một ngộ nhận quan trọng đối với chủ nghĩa Mác đó là người ta thường cho rằng sự thiếu tự do, dân chủ và sự bạo ngược của chính quyền là do lý thuyết của Mác. Nhưng thật ra hoàn toàn không phải như thế. Xin đọc đoạn trích dưới đây:

Ideally, socialism requires a skilled, educated, politically sophisticated populace, thriving civic institutions, a well-evolved technology, enlightened liberal traditions and the habit of democracy. None of this is likely to be on hand if you cannot even afford to mend the dismally few highways you have, or have no insurance policy against sickness or starvation beyond a pig in the back shed. Nations with a history of colonial rule are especially likely to be bereft of the benefits I have just listed, since colonial powers have not been remarkable for their zeal to implant civil liberties or democratic institutions among their underlings.

Một cách lý tưởng, CNXH đòi hỏi phải có những con người có kỹ năng, được học hành tử tế, và có ý thức chính trị sâu sắc, cùng với các thiết chế của một xã hội công dân (hoặc 'xã hội dân sự'), một nền công nghệ phát triển, các truyền thống nhân văn mang tính khai sáng, và các thói quen của một nền dân chủ. Những điều này sẽ không thể có được khi chúng ta thậm chí còn chưa có đủ tiền để sửa chữa các xa lộ bị hư hỏng nặng nề, hoặc khi chúng ta không có các chính sách bảo hiểm để phòng ngừa trường hợp bị bệnh tật hoặc nạn đói và chỉ biết dựa vào việc từng người nông dân nuôi thêm một con lợn ở sau nhà làm của đề dành mà thôi. Các quốc gia có lịch sử thống trị của thực dân đa số sẽ thiếu thốn những điều kiện cần thiết của chủ nghĩa xã hội mà tôi đã nêu ở trên, bởi các nhà cầm quyền thực dân rõ ràng chẳng lấy gì làm hăng hái trong việc thiết lập các quyền tự do dân sự hoặc các thiết chế dân chủ trong những quốc gia thuộc địa của mình.

Và một đoạn rất quan trọng khác liên quan đến tình trạng độc tài theo kiểu Stalin:

It is not that the building of socialism cannot be begun in deprived conditions. It is rather that without material resources it will tend to twist into the monstrous caricature of socialism known as Stalinism. The Bolshevik revolution soon found itself besieged by imperial Western armies, as well as threatened by counterrevolution, urban famine and a bloody civil war. It was marooned in an ocean of largely hostile peasants reluctant to hand over their hard-earned surplus at gunpoint to the starving towns. With a narrow capitalist base, disastrously low levels of material production, scant traces of civil institutions, a decimated, exhausted working class, peasant revolts and a swollen bureaucracy to rival the Tsar’s, the revolution was in deep trouble almost from the outset. In the end, the Bolsheviks were to march their starving, despondent, war-weary people into modernity at the point of a gun.

Vấn đề không phải là không thể xây dựng chủ nghĩa xã hội trong những điều kiện thiếu thốn. Vấn đề là ở chỗ nếu thiếu điều kiện vật chất thì CNXH sẽ bị uốn cong thành một thứ quái thai của CNXH có tên gọi là chủ nghĩa Stalin. Cuộc cách mạng Bolshevik lúc ấy chưa thành công được bao lâu thì đã bị bao vây bởi quân đội của các nước phương tây, đồng thời bị đe dọa bởi lực lượng phản cách mạng, cộng thêm nạn đói ở đô thị và một cuộc nội chiến đẫm máu. CNXH bị bỏ rơi trên hoang đảo với những người nông dân thù địch không sẵn lòng giao lại cho các đô thị đang chết đói những phần thặng dư mà họ đã bỏ bao công sức ra để kiếm được. Với số vốn liếng tư bản ít ỏi, trình độ sản xuất của cải vật chất cực thấp, hầu như không có dấu vết gì của các thiết chế dân sự, một giai cấp công nhân ít ỏi và kiệt quệ, các cuộc nổi loạn của nông dân và một bộ máy quan liêu cồng kềnh cho tương xứng với hệ thống hành chính của Nga Sa hoàng, cuộc cách mạng thực sự ở trong tình trạng nguy cấp ngay từ những ngày đầu. Cuối cùng, những người Bolshevik phải sử dụng đến họng súng để lùa những người dân đói khát, tuyệt vọng, chán ngán chiến tranh của mình tiến lên một xã hội hiện đại. 

Quả là những lời rất hay, rất hùng biện để biện hộ cho tình trạng độc tài (theo quan điểm của phương Tây) của các nước XHCN như Liên Xô, TQ, vv. Nhưng dù tác giả rõ ràng tỏ ra thông cảm với tình trạng đã xảy ra ở các nước XHCN, thì ông vẫn không có ý nói tình trạng trên là bình thường hoặc đáng để chấp nhận nhằm xây dựng CNXH. Luận điểm chính của ông là: Mác có một quan điểm khác về CNXH, nhân bản hơn nhiều, và CNXH chỉ có thể được xây dựng thành công tại các quốc gia có sẵn các thiết chế của một nền dân chủ và một xã hội dân sự mạnh.

Những lập luận trên của GS Terry Eagleton chẳng phải là đáng suy nghĩ lắm chăng? Và phải chăng chúng ta cần thay đổi nội dung giảng dạy trong các sách giáo khoa của ta về sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu theo cách lý giải của Eagleton chăng, đó là: Những cuộc cách mạng đó chỉ là những quái thai của CNXH, và vì vậy không thể nào phát triển bền vững được vì nó đã không tuân theo chủ nghĩa Mác ngay từ điểm xuất phát?

Tôi sẽ viết tiếp về điều ngộ nhận thứ ba (Chương 3 của cuốn sách) khi có chút thời gian.

Mười điều ngộ nhận về chủ nghĩa Mác (2): Mác chỉ đúng trên lý thuyết?

Bài viết này tiếp tục loạt bài mà tôi đã bắt đầu từ đầu tháng 2 năm nay. Như cái tựa chung của loạt bài này cho thấy, loạt bài này sẽ gồm tất cả là 10 bài, nếu mỗi bài chỉ nêu một điều ngộ nhận, và nếu không có những bài viết thêm để bàn bạc quanh 10 điều ngộ nhận đó. Bài này là bài thứ 2 trong loạt bài ấy. Để liền ý, có thể đọc bài 1 ở đây: http://bloganhvu.blogspot.com/2013/02/muoi-ieu-ngo-nhan-ve-chu-nghia-mac-1.html. Đồng thời, ai cần kiểm tra lại bản gốc tiếng Anh xin đọc ở đây (bản download từ trên mạng và lưu trong google drive của tôi): https://docs.google.com/file/d/0B23GcuCxvQVBZDdMcE5rSjV4cW8/edit?usp=sharing.

Trong bài này tôi sẽ tiếp tục bằng cách dịch phần tóm tắt chương hai của Terry Eagleton cùng một vài phần trích dẫn đáng chú ý trong chương này, sau đó đưa ra những nhận xét cùng thắc mắc của tôi về những vấn đề được đặt ra.

Phần tóm tắt của Terry Eagleton cho chương hai của cuốn sách như sau:

Marxism may be all very well in theory. Whenever it has been put into practice, however, the result has been terror, tyranny and mass murder on an inconceivable scale. Marxism might look like a good idea to well-heeled Western academics who can take freedom and democracy for granted. For millions of ordinary men and women, it has meant famine, hardship, torture, forced labour, a broken economy and a monstrously oppressive state. Those who continue to support the theory despite all this are either obtuse, self-deceived or morally contemptible. Socialism means lack of freedom; it also means a lack of material goods, since this is bound to be the result of abolishing markets.

Chủ nghĩa Mác có thể rất ổn trên lý thuyết. Tuy nhiên khi áp dụng chủ nghĩa Mác vào thực tiễn thì kết quả chỉ là khủng bố, bạo ngược và giết người hàng loạt trên một quy mô mà không ai có thể hình dung. Các học giả phương Tây vốn có cuộc sống thoải mái và xem tự do dân chủ là lẽ đương nhiên thì có thể thấy chủ nghĩa Mác là một ý tưởng hay ho. Nhưng đối với những người thường thì chủ nghĩa này chỉ đồng nghĩa với nạn đói, đời sống khó khăn, bị tra tấn, lao động cưỡng bức, nền kinh tế đổ vỡ, và nhà nước áp bức đến mức tàn bạo. Những ai vẫn tiếp tục ủng hộ lý thuyết này bất chấp mọi việc đã xảy ra thì hằn phải là kẻ ngu đần, hoặc tự dối mình, hoặc là những kẻ vô đạo đức. Chủ nghĩa xã hội đồng nghĩa với việc mất tự do, mà cũng thiếu thốn cả hàng hóa vật chất nữa, vì điều ấy là hệ quả tất yếu của việc xóa bỏ thị trường [vì CNCS không chấp nhận thị trường - chú thích của người dịch]. 

(Ghi chú: Phần màu đỏ ở trên là phần mới sửa lại, again, theo góp ý của bạn Tú Đoàn. Cám ơn anh TĐ nhiều lắm!)

Nghe quen quen, phải không các bạn. Đúng là quan điểm phổ biến về CNXH của các nước tư bản phương Tây. Nhưng, nếu bạn còn nhớ, thì theo Terry Eagleton, đây chỉ là một trong nhiều điều ngộ nhận về chủ nghĩa Mác. Vậy, theo tác giả thì như thế nào mới là đúng? Chúng ta hãy theo dõi những lập luận mà tác giả đã đưa ra để phản bác ngộ nhận nêu trên nhé.

Trước hết, theo tác giả thì chủ nghĩa Mác không hề độc quyền trong những vấn đề như giết chóc,nạn đói, hoặc đàn áp, bạo lực. Chủ nghĩa tư bản - ít ra trong thời gian đầu - cũng đầy những ví dụ về bạo lực, áp bức, đói nghèo vv chứ không hề kém CNXH chút nào. Chủ nghĩa phát-xít, vốn ra đời trong lòng xã hội tư bản, và hoàn toàn không phải là CNCS, là một ví dụ cho thấy đâu chỉ có CNCS mới "khát máu" như người ta thường nói. Ngược lại, chính CNCS, mà lúc bấy giờ được Liên Xô (cũ) đại diện, đã cùng đồng minh đập tan chủ nghĩa phát-xít để cứu nguy cho nhân loại cơ mà.

Ngoài ra, nếu nói rằng CNTB có những thành tựu lớn, thì thực ra CNXH cũng có những thành tựu không nhỏ của nó. Ít ra, nó đã đưa hai đất nước khổng lồ nhưng nghèo nàn, lạc hậu là TQ và Liên Xô (cũ) thoát khỏi nạn đói và sự lạc hậu, chậm tiến để thực sự đặt chân vào thế giới hiện đại. Cho nên không thể nói đói nghèo, lạc hậu và bạo lực là sản phẩm của CNXH được.

Nhưng đó chỉ là lập luận phụ. Lập luận chính của Eagleton là thực ra Mác không phải là tác giả của những tư tưởng đã được áp dụng trong thực tế của các quốc gia XHCN (well, đúng hơn là CSCN), vì vậy bắt Mác phải chịu trách nhiệm về cái thực tiễn không lấy gì làm sáng sủa ở các quốc gia này rõ ràng là một điều ngộ nhận. Xin xem đoạn trích dưới đây:

Marx himself never imagined that socialism could be achieved in impoverished conditions. Such a project would require almost as bizarre a loop in time as inventing the Internet in the Middle Ages. Nor did any Marxist thinker until Stalin imagine that this was possible, including Lenin, Trotsky and the rest of the Bolshevik leadership. You cannot reorganise wealth for the benefit of all if there is precious little wealth to reorganise. You cannot abolish social classes in conditions of scarcity, since conflicts over a material surplus too meagre to meet everyone’s needs will simply revive them again. As Marx comments in The German Ideology, the result of a revolution in such conditions is that ‘‘the old filthy business’’ (or in less tasteful translation, ‘‘the same old crap’’) will simply reappear. All you will get is socialised scarcity. If you need to accumulate capital more or less from scratch, then the most effective way of doing so, however brutal, is through the profit motive. Avid self-interest is likely to pile up wealth with remarkable speed, though.


Chính bản thân Mác chưa bao giờ tưởng tượng rằng người ta lại có thể áp dụng chủ nghĩa xã hội vào những hoàn cảnh đói nghèo như thế. Để làm được điều đó thì cần phải kéo lui lại một thời gian trong tương lai, tương tự như sáng chế ra Internet trong thời Trung cổ vậy. Và các nhà tư tưởng theo chủ nghĩa Mác-xít trước Stalin cũng chưa bao giờ tưởng tượng rằng người ta có thể làm được điều ấy, cả Lênin. Trosky, và các vị lãnh đạo Bolshevik cũng nghĩ như vậy. Rõ ràng ta không thể tổ chức lại của cải trong xã hội vì lợi ích của mọi người nếu như thực ra chẳng có mấy của cải để mà tái tổ chức. Ta cũng không thể phá bỏ các giai cấp xã hội trong những điều kiện thiếu thốn, vì như thế phần thặng dư vật chất quá ít ỏi để đáp ứng nhu cầu của tất cả mọi người sẽ lại tiếp tục tạo ra những xung đột [như trong xã hội tư bản - chú thích của người dịch]. Như chính Mác đã phát biểu trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, kết quả của một cuộc cách mạng trong những điều kiện như vậy chỉ làm cho "những rác rưởi của xã hội cũ" tái xuất hiện mà thôi. Kết quả đạt được chỉ có thể là sự thiếu thốn trên toàn xã hội. Nếu chúng ta cần tích lũy tư bản từ con số không, thì cách làm hiệu quả nhất, cho dù điều đó man rợ đến mức nào đi chăng nữa, là thông qua động cơ lợi nhuận. Và sự thèm khát tư lợi sẽ dễ dàng giúp tích lũy của cải một cách nhanh chóng nhất. 

(Chú thích: Bản dịch cũ dịch nhầm Stalin (in đậm ở trên) thành Lê nin. Sửa lại theo góp ý của bạn Tú Đoàn.)

Quả thật, theo tôi đoạn trích dẫn là vô cùng quan trọng. Nếu Terry Eagleton đúng (và có vẻ đây là quan điểm của các nhà lý luận cũng như các chính trị gia chính thống của VN, như Hoàng Hữu Phước, đại biểu quốc hội, người đầu tiên nhắc đến tác phẩm Why Marx was right tại VN, ví dụ như ở đây: http://hoanghuuphuocvietnam.blog.com/?p=75; hoặc nhóm Giao điểm ở Mỹ, một nhóm với quan điểm chống Công giáo cực đoan và thân Cộng rõ ràng, thường được các báo chí chính thống trong nước trích đăng lại) thì chúng ta thực sự cần xem xét và đánh giá lại tính sáng suốt của sự lựa chọn của chúng ta khi quyết định "tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội" trong tình trạng đất nước còn rất nghèo và lạc hậu. Và nếu đây là sai lầm (theo Eagleton thì có lẽ Mác sẽ nghĩ như thế) thì ai phải chịu trách nhiệm về lựa chọn sai lầm ấy, cũng như phải làm gì để sửa chữa những sai lầm này, đó là điều mà tất cả chúng ta phải nghiêm túc suy nghĩ.

Thực ra, chưa cần ai nói thì điều này cũng đã được Đảng CSVN xem xét lại từ cuối thập niên 1980 rồi, nên mới có "đổi mới (kinh tế)" và những phát triển ngoạn mục mà chúng ta đã biết hiện nay. Tuy nhiên, tôi vẫn nghĩ vấn đề này không chỉ cần xem xét dưới góc độ chính sách (đó là công việc của những nhà chính trị) mà còn cần xem xét dưới góc độ khoa học, là việc mà tôi đang cố gắng làm, nếu chúng ta thực sự xem mình là đồ đệ của chủ nghĩa Mác.

Và một khi đã hiểu đúng, thì tôi nghĩ ít ra chúng ta cũng cần sửa đổi lại các giáo trình dạy triết học Mác-Lênin của Việt Nam, và cần phân biệt rõ ràng đâu là tư tưởng của Mác, đâu là tư tưởng của Lênin, và đâu là sự "sáng tạo" của những người sau như Stalin, Mao, hoặc các nhân vật khác có hoặc không có tên tuổi trong lịch sử. Điều này sẽ các sinh viên của chúng ta không còn tình trạng lơ mơ như hiện nay, vì tôi biết chúng ta tốn rất nhiều thời gian để dạy và học triết Mác-Lênin, nhưng sự hiểu biết về Mác của sinh viên Việt Nam so với phương tây thì có lẽ chỉ là một con số không to tướng. Ngay cả một người giỏi tiếng Anh, trí thức, đại biểu quốc hội, doanh nhân thành đạt vv như ông HHP mà còn nhầm lẫn như thế, thì làm sao có thể hy vọng gì hơn đối với các sinh viên VN, vốn xem môn Triết như một môn học thuộc lòng để trả nợ cho qua?

(còn tiếp)