Hôm nay tìm thấy bài này có liên quan đến lý thuyết của Sternberg, đặc biệt là phần nói về Thông minh/trí tuệ thực tiễn (practical intelligence) nên tiếp tục đưa về đây để làm tư liệu, và ghi lại vài suy nghĩ của mình về vấn đề này.
Link: http://www.udel.edu/educ/gottfredson/reprints/2003dissecting.pdf
--
Các phát biểu của Sternberg (2000) về thông minh thực tiễn:
1. ‘‘Practical intelligence is what most people call common sense. It is the ability to adapt to, shape, and select everyday environments’’ (p. xi).
2. ‘‘Adaptation, shaping, and selection [of environments] are functions of intelligent thought as it operates in context. It is through adaptation, shaping, and selection that the components of intelligence as employed at various levels of experience become actualized in the real world. This is the definition of practical intelligence used by Sternberg and his colleagues’’ (p. 97).
3. ‘‘Practical ability involves implementing ideas; it is the ability involved when intelligence is applied to real world contexts’’ (p. 31).
4. Referring in particular to the measurement of practical intelligence by the STAT, Sternberg et al. (pp. 97–98) state that its ‘‘practical questions address the ability to solve real-world, everyday problems.’’
Nếu nói theo lý thuyết thông tin (information theory) và theo phương pháp nghiên cứu khoa học thì có thể xem academic intelligence (thông minh hàn lâm) là để đi lấy data và information có sẵn để về phân loại, sắp xếp, rút ra kết luận; thông minh sáng tạo là để tự tạo ra data và information của riêng mình và từ đó đưa ra kết luận; còn thông minh thực tiễn thì để bối cảnh hóa các data và information, cũng như các solution đó khiến cho chúng trở thành hữu dụng trong hoàn cảnh của nhà nghiên cứu! (biến thông tin thành tri thức!)
Cũng theo Sternberg thì thông minh thực tiễn dựa chủ yếu trên tacit knowledge, tức kiến thức ngầm, tiềm ẩn. Loại kiến thức này thường do tự nghiệm ra, và là kiến thức về quy trình (procedural knowledge) ví dụ như biết nói cái gì với ai, vào lúc nào, để đạt được mục tiêu của mình.
"Promotions are, in fact, a particularly good example of the importance of tacit knowledge to practical intelligence. The people who get promoted within an organization are usually the ones who have figured out how the system they are in really works, regardless of what anyone may say about how it is supposed to work... In many fields, what matters even more than the work you do is the reputation you build for that work, and reputation is not always tantamount to the quality of the work." (làm sao đưa cái này thành block quote nhỉ?)
"Thăng chức là một ví dụ rất rõ cho thấy sự quan trọng của kiến thức ngầm/tiềm ẩn trong thông minh thực tiễn. Những người được thăng chức trong cơ quan thường là những người biết hệ thống hoạt động ra sao, bất kể người ta có thể nói gì về cách hoạt động của hệ thống ấy... Trong nhiều lãnh vực, điều quan trọng không phải là cái anh làm cho bằng cái danh tiếng mà anh xây dựng được, dù cái danh tiếng đó không phải lúc nào cũng tương xứng với chất lượng công việc của anh." (PA dịch - dịch thoát chứ không dịch sát)
--
Đại khái thế. Thông minh thực tiễn - nghe cũng hay hay đấy. Nhưng các nhà tâm lý khác, mà Gottfredson, tác giả tài liệu đang giới thiệu ở đây là một, cũng đã tấn công Sternberg tơi tả vì lý thuyết của ông thiếu chứng cứ (có, nhưng bị xem là chưa đủ). Nhưng lập luận thì có vẻ có lý, ít ra là trong trường hợp của mình. Mẹ mình chẳng hạn, bà ít học, nhưng thông minh thực tiễn có vẻ rất cao, vì ra quyết định rất đúng đắn. Còn mình thì, mặc dù cũng tự hào là thông minh (IQ chắc là kha khá), học nhiều biết rộng (!), nhưng chưa chắc là những quyết định cho cuộc đời đã tốt hơn bà.
Sẽ tiếp tục tìm hiểu thêm về cái thuyết này; thật ra nó rất giống trong giảng dạy ngoại ngữ có thuyết về BICS and CALP (?) thì phải?
Hiển thị các bài đăng có nhãn thinking. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thinking. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Ba, 8 tháng 12, 2009
Thứ Hai, 7 tháng 12, 2009
Ba loại tư duy theo phân loại của Robert Sternberg
Hôm nay nhận được mấy cuốn sách mới mua qua amazon. Đọc cuốn Significant Learning Experiences, phần nói về thinking (tư duy) hay quá nên ghi lại đây cho khỏi quên.
Nhân tiện, đọc xong thì thấy rằng mình có 2 loại tư duy đầu khá tốt, nhưng có vẻ hơi kém loại tư duy thứ ba, nên sao thấy cho đến nay vẫn còn vất vả, vật vã quá trong cuộc sống này!
Lại nghĩ thêm, có lẽ đào tạo nhà kinh doanh, nhà quản lý, và lãnh đạo thì phải chú trọng vào loại tư duy thứ ba, nhưng hình như ở VN người ta không ý thức được việc này, mà chỉ chú ý đào tạo loại người có tư duy loại 1 và loại 2 thôi? Nên chỉ có nhà khoa học, và nghệ sĩ, nhưng không có nhà kinh doanh giỏi (chụp giật thì có), nhà quản lý giỏi, và nhất là, nhà lãnh đạo giỏi. Nên bây giờ dân mình, nước mình cũng ... vật vã, giống mình!
---
Ba loại tư duy theo phân loại của Robert Sternberg (1989)
Một trong những mục tiêu quan trọng nhất của việc học tập ở bậc đại học là rèn luyện tư duy. Khi yêu cầu bất kỳ một giảng viên nào liệt kê các mục tiêu giáo dục của một môn học, thế nào ta cũng bắt gặp một mục tiêu chung, đó là “giúp sinh viên phát triển/ rèn luyện tư duy”. Tuy nhiên, dường như mỗi giảng viên lại có một cách hiểu riêng về thế nào là tư duy.
Tác giả L. Dee Fink trong cuốn sách Creating Significant Learning Experiences (Jossey-Bass, CA, 2003: 39-42) đã chọn cách phân loại “3 ngôi” về tư duy của Robert Sternberg (1989) để giải thích sự khác biệt trong các định nghĩa về tư duy của các tác giả khác nhau. Theo Sternberg, tư duy bao gồm 3 loại chính: tư duy phản biện (critical thinking), tư duy sáng tạo (creative thinking), và tư duy thực tiễn (practical thinking). Sự khác biệt của 3 loại tư duy này được mô tả dưới đây.
Theo quan điểm của Sternberg, tư duy phản biện, vốn là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi nhất trong giáo dục đại học, bao gồm việc phân tích và phán đoán một vấn đề gì đó. Như vậy, để có thể tư duy phản biện thì điều cần thiết là phải có các chuẩn mực để phân tích và phán đoán.
Tư duy sáng tạo là loại tư duy được sử dụng khi ta tưởng tượng hoặc tạo ra một ý tưởng mới, một thiết kế mới, hay một sản phẩm mới; trong trường hợp này, tính “mới lạ” và “phù hợp với bối cảnh” là các yếu tố cực kỳ quan trọng.
Loại tư duy thứ ba, tư duy thực tiễn, cần thiết khi ta học cách sử dụng hay áp dụng một điều gì, như khi đang cố gắng giải quyết một vấn đề hay đưa ra một quyết định. Sản phẩm của loại tư duy này là một giải pháp hoặc một quyết định, và như thế yếu tố quan trọng nhất của loại tư duy này là tính hiệu quả của quyết định hoặc giải pháp. Trong đào tạo quản trị kinh doanh, việc sử dụng phương pháp điển cứu (case studies) chính là nhằm để phát triển loại tư duy này, bởi vì thông qua các trường hợp điển hình sinh viên có thể tập tành đưa ra các quyết định và giải quyết những vấn đề thực tế.
Nhân tiện, đọc xong thì thấy rằng mình có 2 loại tư duy đầu khá tốt, nhưng có vẻ hơi kém loại tư duy thứ ba, nên sao thấy cho đến nay vẫn còn vất vả, vật vã quá trong cuộc sống này!
Lại nghĩ thêm, có lẽ đào tạo nhà kinh doanh, nhà quản lý, và lãnh đạo thì phải chú trọng vào loại tư duy thứ ba, nhưng hình như ở VN người ta không ý thức được việc này, mà chỉ chú ý đào tạo loại người có tư duy loại 1 và loại 2 thôi? Nên chỉ có nhà khoa học, và nghệ sĩ, nhưng không có nhà kinh doanh giỏi (chụp giật thì có), nhà quản lý giỏi, và nhất là, nhà lãnh đạo giỏi. Nên bây giờ dân mình, nước mình cũng ... vật vã, giống mình!
---
Ba loại tư duy theo phân loại của Robert Sternberg (1989)
Một trong những mục tiêu quan trọng nhất của việc học tập ở bậc đại học là rèn luyện tư duy. Khi yêu cầu bất kỳ một giảng viên nào liệt kê các mục tiêu giáo dục của một môn học, thế nào ta cũng bắt gặp một mục tiêu chung, đó là “giúp sinh viên phát triển/ rèn luyện tư duy”. Tuy nhiên, dường như mỗi giảng viên lại có một cách hiểu riêng về thế nào là tư duy.
Tác giả L. Dee Fink trong cuốn sách Creating Significant Learning Experiences (Jossey-Bass, CA, 2003: 39-42) đã chọn cách phân loại “3 ngôi” về tư duy của Robert Sternberg (1989) để giải thích sự khác biệt trong các định nghĩa về tư duy của các tác giả khác nhau. Theo Sternberg, tư duy bao gồm 3 loại chính: tư duy phản biện (critical thinking), tư duy sáng tạo (creative thinking), và tư duy thực tiễn (practical thinking). Sự khác biệt của 3 loại tư duy này được mô tả dưới đây.
Theo quan điểm của Sternberg, tư duy phản biện, vốn là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi nhất trong giáo dục đại học, bao gồm việc phân tích và phán đoán một vấn đề gì đó. Như vậy, để có thể tư duy phản biện thì điều cần thiết là phải có các chuẩn mực để phân tích và phán đoán.
Tư duy sáng tạo là loại tư duy được sử dụng khi ta tưởng tượng hoặc tạo ra một ý tưởng mới, một thiết kế mới, hay một sản phẩm mới; trong trường hợp này, tính “mới lạ” và “phù hợp với bối cảnh” là các yếu tố cực kỳ quan trọng.
Loại tư duy thứ ba, tư duy thực tiễn, cần thiết khi ta học cách sử dụng hay áp dụng một điều gì, như khi đang cố gắng giải quyết một vấn đề hay đưa ra một quyết định. Sản phẩm của loại tư duy này là một giải pháp hoặc một quyết định, và như thế yếu tố quan trọng nhất của loại tư duy này là tính hiệu quả của quyết định hoặc giải pháp. Trong đào tạo quản trị kinh doanh, việc sử dụng phương pháp điển cứu (case studies) chính là nhằm để phát triển loại tư duy này, bởi vì thông qua các trường hợp điển hình sinh viên có thể tập tành đưa ra các quyết định và giải quyết những vấn đề thực tế.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)