Thứ Hai, 31 tháng 5, 2010

Cầu nguyện

Tại sao tôi lại viết entry về cầu nguyện? Không biết nữa, có lẽ chỉ là một điều hết sức ngẫu nhiên mà thôi.

Trước hết, có lẽ entry này là do tôi vừa đọc được trên mạng câu danh ngôn thú vị quá, về "lợi ích" của lời cầu nguyện. Đây này:

“When I was a child, I used to pray to God for a bicycle. But then I realised that God doesn’t work in that way – so I stole a bike and prayed for forgiveness.”
Khi còn bé, tôi thường cầu xin Thượng đế ban cho tôi một chiếc xe đạp. Nhưng rồi tôi nhận ra Thượng đế không hành xử theo cách như vậy - và thế là tôi ăn cắp xe đạp và cầu xin Thượng đế tha thứ.
- Emo Phillips

Thú vị không? Thật là ranh ma, các bạn nhỉ? Tôi cũng nhớ một vài câu danh ngôn khác về Thượng đế, xin chép luôn ra đây cho vui đã:

Cầu nguyện của một người theo chủ nghĩa hoài nghi trong giờ phút lâm chung:
"Lạy Chúa (nếu có Chúa), hãy cứu lấy linh hồn con (nếu con có linh hồn)."

Và cầu nguyện của một cậu bé tiểu học sau giờ thi môn Địa lý:
"Lạy Chúa, nếu quả Ngài là đấng quyền năng, xin hãy làm cho London trở thành thủ đô của nước Pháp."

Theo truyền thống gia đình, tôi theo đạo Công giáo. Tôi nhớ ngày nhỏ, khi chọn khu dân cư để ở (vì công việc, bố mẹ tôi phải thay đổi chỗ ở rất nhiều lần), bao giờ một trong những tiêu chuẩn hàng đầu của bố mẹ tôi cũng là phải chọn nơi gần nhà thờ. Tôi lớn lên trong những xóm đạo, với những căn nhà nho nhỏ nằm dưới bóng một nhà thờ có tháp chuông cao và tiếng chuông nhà thờ một ngày mấy bận loan báo giờ lễ. Vì vậy, những truyền thống văn hóa của đạo không hề xa lạ với tôi. Trong các thói quen đó, có thói quen cầu nguyện Thượng đế mà có nơi (chủ yếu là sách vở của phương Tây) gọi là trò chuyện cùng Thượng đế.

Ngày còn bé, giống như cậu bé trong lời cầu nguyện mà tôi đã nêu ở trên, tôi luôn tìm đến Chúa để cầu xin những điều mà tôi mong ước mãnh liệt, mà tôi tin rằng sức vóc trẻ em của tôi không thể nào tự mình làm nổi. Và một nơi tôi rất hay đến, cũng theo thói quen của gia đình, là Nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế ở đường Kỳ Đồng. Tôi nhớ, năm tôi thi vào lớp 6 trường Gia Long, cả bọn trong lớp 5, 7 đứa rủ nhau đi bộ (!) lếch thếch từ xứ Nam Hòa (cạnh khu Cư xá Bắc Hải) đến Nhà thờ Kỳ Đồng để cầu cho mình thi đậu. Thành kính lắm.

Nói thêm: trong cả bọn cùng đi hôm ấy, hình như chỉ có tôi thi đậu. Nhưng hình như cũng chẳng có đứa nào oán trách tại sao Chúa chỉ cho tôi đậu mà mấy đứa khác thì không. Đi nhà thờ cầu nguyện, dường như chỉ là thói quen, vậy thôi, không mong đợi gì và cũng chẳng oán trách gì nếu không được.

Đến lớn, nhất là vì những xáo trộn trong cuộc sống từ năm 1975, tôi bận rộn hơn, và thực dụng hơn, nên thói quen cầu nguyện của tôi đã mất đi nhiều. Hoặc nói đúng hơn cái mất đi chỉ là sự ngây thơ thành kính của một đứa trẻ. Chợt nghĩ, không còn cung kính vái lạy nữa cũng là một biểu hiện của dân chủ hóa trong tôn giáo mà phương Tây cũng đã làm trước mình rất nhiều. Linh mục đối với họ cũng chỉ là một professional, và Thượng đế thì cũng chỉ là một người bạn (trò chuyện với Thượng đế mà).

Người ta cầu nguyện để làm gì? Hoặc một câu hỏi rộng hơn, tôn giáo tồn tại để làm gì? Câu hỏi này sau năm 1975 tôi đã tranh luận rất nhiều với bạn bè, vì lúc ấy tôi đi học đại học, có những người bạn từ miền Bắc vào, hoàn toàn không có tôn giáo, tín ngưỡng. Thậm chí họ cho rằng tôn giáo là lạc hậu (là thuốc phiện của quần chúng, như Karl Marx nói). Nhưng ngay từ hồi ấy tôi đã cãi rất dữ, dùng ngay lập luận của duy vật biện chứng (?) để nói rằng, tôn giáo là một hiện tượng xã hội, và nếu nó tồn tại trên khắp toàn cầu và qua mọi thời đại dù hình thức này hay hình thức khác, thì rõ ràng nó phải có lý do để tồn tại. Không thể nào khác được.

Bây giờ, tôi đã qua bên kia dốc của cuộc đời rồi. Những tranh luận về ý nghĩa của tôn giáo đối với tôi bây giờ không còn cần thiết nữa - mình tin gì thì đã tin rồi, mà nếu bây giờ có ai chứng minh được điều ngược lại với những gì tôi tin, tôi nghĩ, thì có lẽ tôi cũng không quan tâm và không thay đổi được nữa. Có một câu nói tôi hay nhắc đến, và rất thích, đó là: "Ai là ai, thì ai cũng biết rồi!" Thế đấy.

Vậy thì tại sao tôi lại viết lăng nhăng về cầu nguyện như thế này? Tôi cũng không biết nữa. Có lẽ chỉ ngẫu nhiên thôi.

Vì sáng nay, theo thói quen đọc báo (mạng) vào buổi sáng, chẳng hiểu thế nào tôi lại đọc được bài viết (cũng không nhớ ở đâu, hình như là EpochTimes?) về một loạt vụ giết trẻ em tại các trường học ở Trung Quốc, và phát biểu của Thủ tướng Ôn Gia Bảo rằng phải tìm hiểu "root causes" (nguyên nhân sâu xa) của hiện tượng này. Và lời kết luận của bài viết: nguyên nhân sâu xa của các vụ việc trên có lẽ là do các tôn giáo không được tạo điều kiện để phát triển tại Trung Quốc từ sau cách mạng đến bây giờ.

Lại nhớ đến một lô tin tức rùng rợn khủng khiếp gần đây trên báo chí Việt: xác chết không đầu, hay tưới xăng đốt vợ, hoặc học sinh trung học cầm dao đâm bạn từ phía sau lưng, vv.

Rồi lại đọc được bài viết của BS Hồ Hải, "viết vội cho em gái". Đối với tôi, bài viết đó cũng giống như một lời cầu nguyện (= trò chuyện).

Nhu cầu trò chuyện, trước hết là cho chính người nói, chưa cần xét có phải là cho người nghe hay không. Chính vì vậy mà một trong những hình phạt nặng nề dành cho các tội nhân là bị cách ly khỏi thế giới loài người, trước hết là để tước đi quyền được trò chuyện với những người hiểu mình.

Tôi lẩn thẩn tự nghĩ, một xã hội mà con người bị cô lập về tinh thần, không có ai để trò chuyện, kể cả Thượng đế, trong những lúc buồn bã, bi quan, thất bại, tuyệt vọng ... Thì họ sẽ làm gì, nếu không phải là phát điên lên?

Và bạo lực gia đình, bạo lực học đường, và bạo loạn xã hội sẽ từ đó phát sinh?

Cầu nguyện là gì, nếu không phải là tự tìm ra cách giải thoát, và tìm lại niềm tin vào cuộc sống?

Phải chăng một thế giới không có tôn giáo, tín ngưỡng, thực sự là một sa mạc về tinh thần, và là dấu hiệu của các mầm mống gây bất ổn xã hội, như tôi đã từng đọc được ở đâu đó?

Hay phải chăng tôi đã quá già, và đã lẩn thẩn rồi?
--
Nhân tiện, bài viết mới này tôi thấy cũng rất đáng đọc, không phải liên quan đến cầu nguyện nhưng nó cũng nằm trong dòng suy nghĩ này của tôi - chia sẻ, trò chuyện, trao đổi ý kiến. Trên Tuần Việt Nam, ở đây.

Thứ Năm, 27 tháng 5, 2010

Thầy Khoa

Tôi đã nghĩ mình không nên viết gì thêm về thầy Khoa nữa, vì chuyện của thầy đã có nhiều người viết lắm rồi. Hơn thế nữa, nó là một câu chuyện chẳng có gì vui, dù có xét theo khía cạnh nào đi nữa. Nhưng rồi một câu hỏi của người thân, rằng PA nghĩ gì về việc thầy Khoa, khiến tôi lại phải viết, như một cách trả lời. Dù vẫn nghĩ, việc của thầy buồn lắm, tốt nhất là để yên cho vết thương (lòng) của thầy khép lại.

Ngay từ khi thầy mới "gặp thời" (từ này mượn trong một bài viết nào đó nhắc tới thầy bằng 3 từ rất "đắt": gặp thời, đương thời, rồi ... hết thời), thì câu chuyện xung quanh thầy cũng chẳng có gì vui: lẽ nào có thể vui được, khi một kỳ thi quốc gia quan trọng thế, mà cách ứng xử của sĩ tử và nhà trường thì bát nháo chắc khác gì một cái chợ như vậy?

Rồi đến khi thầy thành người đương thời, tôi cũng thấy câu chuyện thật đáng buồn. Một ông thầy giáo ở trường phổ thông trở thành người đương thời, được giới truyền thông lăng xê lên, việc này không chỉ có ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam của ta. Mà ở các nước tư bản giãy chết, ví dụ như hồi tôi ở Úc cũng thấy thỉnh thoảng có thầy cô giáo phổ thông được đưa lên TV như vậy.

Cái khác là ở chỗ: thầy cô của họ nổi tiếng vì có được những tác động tích cực đến học sinh (ví dụ, giúp cho các học sinh là con cái của người nhập cư mau chóng hòa nhập vào cộng đồng, chẳng hạn), thì thầy Khoa của chúng ta lại nổi tiếng, trở thành người đương thời vì ... đã vạch trần được những tiêu cực trong thi cử, bắt được học sinh và nhà giáo vi phạm đạo đức. Càng nghĩ, tôi càng buồn thấm thía, thật chứ. Đương thời theo kiểu thầy Khoa, thì vui làm sao được.

Và đến lúc thầy ... hết thời, thì buồn là đã hẳn. Có ai hết thời mà không buồn. Có sự chấm dứt, sự chia tay nào mà không làm cho người ta ngậm ngùi, dù chỉ là tí chút. Tôi nghĩ, ngay cả khi hai vợ chồng đồng ý đưa nhau ra tòa ly dị, thì khi nhận được tờ giấy ly hôn (tôi cũng chẳng biết nói thế có đúng không, vì tôi là người theo đạo công giáo, nên "ly hôn" là một từ không có trong từ điển của tôi), có lẽ người ta cũng sẽ buồn buồn, ngậm ngùi, thậm chí cay đắng một chút, nếu người ta còn chút gì gọi là lương tâm.

Huống chi, đây là rời một nghề mà mình đã theo đuổi trong một thời gian dài, lại là một nghề ít nhiều có tính lý tưởng, được xã hội trọng vọng (ít ra là trọng vọng theo kiểu ... nói cái mồm!), và thầy Khoa thì còn trẻ, nào đã đến tuổi hưu! Và buồn hơn nữa, là thầy Khoa nghỉ vì môi trường làm việc của thầy đã khiến cho thầy không làm việc được nữa, nên việc nghỉ của thầy cũng giống như bị ép nghỉ vậy. Mà đấy là ngành giáo dục, ngành lẽ ra phải nhân đạo, nhân văn, nhân hậu nhất. Bảo, "làm sao mà tôi không (muốn) khóc cho được" (câu này lấy trong truyện đọc cho trẻ con đi học mẫu giáo thì phải).

Những cái buồn nãy giờ tôi nêu ra chẳng phải chỉ buồn cho thầy Khoa, mà là buồn cho ngành giáo dục của VN: gian lận, tiêu cực đầy dẫy, đến nỗi chẳng ai muốn chống (một người làm thì chỉ như hạt cát trong sa mạc, nào có ích gì, hẳn là ai cũng nghĩ thế). Còn cái buồn riêng của thầy Khoa là thầy không biết khôn ngoan "theo thời", "thức thời", mà lại ngây thơ nghe theo lời hô hào, kêu gọi của một vị đứng đầu ngành giáo dục vào thời điểm ấy, để hăng hái "nói không với tiêu cực và gian lận trong thi cử" (hình như khẩu hiệu lúc ấy là như thế, tôi cũng không nhớ rõ - nói theo ngôn ngữ thời nay thì phải là "tham nhũng trong giáo dục").

Đúng là thầy Khoa không khôn ngoan thật, vì khôn ngoan ra thì phải hiểu những việc hưởng ứng như vậy luôn luôn là top down thì mới thuận chiều: Bộ trưởng kêu gọi, giám đốc sở hưởng ứng và phát động trong tỉnh, rồi hiệu trưởng hưởng ứng và yêu cầu giáo viên làm theo, rồi giáo viên thì tuân thủ vừa đủ cho hiệu trưởng hài lòng nhưng cũng không được đụng chạm đến đồng nghiệp và những người xung quanh. Rồi sau đó thì ... đâu lại hoàn đấy. Thì mới là "biết", ở cái mảnh đất Việt Nam yêu dấu này.

Nhưng thầy Khoa lại không khôn ngoan, hưởng ứng dữ dội quá, lại được lăng xê nữa, nên đã đi trật con đường an toàn mà ai cũng biết rồi. Một khi thầy đã lỡ lộ diện chống đối lại còn nổi cộm như vậy nữa chứ, thì chắc chắn sẽ bị cô lập, bị đàn áp, theo một kiểu nào đấy, thô thiển hay tinh vi, điều này có lẽ cũng chẳng ai lấy làm lạ.

Cuối cùng, sau một thời gian cầm cự, thầy Khoa phải đi đến quyết định xin nghỉ hẳn khỏi ngành giáo dục, thì buồn thay, nhưng cũng dễ hiểu thay, người (đã từng) đương thời của chúng ta chẳng có ai trong ngành nâng đỡ, an ủi, tạo điều kiện tiếp tục làm việc trong ngành cả.

Thậm chí một vị GS trước đây đã từng lớn tiếng ủng hộ thầy và hứa sẽ nhận thầy về làm việc nếu bị o ép và phải nghỉ việc thì nay cũng ... chối phắt, không nhận nữa, vì thầy Khoa ... "bất bình thường". Mọi việc khác, thì tôi không lạ, nhưng phản ứng của vị GS này thì thật sự làm cho tôi hơi bất ngờ. Trời ơi, còn có sự bất nhẫn nào lớn hơn như vậy không, khi thầy bây giờ chỉ còn là một kẻ ngã ngựa, đã mất hết tất cả mọi thứ trong tay ...

Nhưng tôi nghĩ, có lẽ đến thời điểm này thì quyết định rời ngành giáo dục của thầy là quyết định đúng nhất trong cuộc đời làm việc của thầy. Cũng giống như hai vợ chồng đã đến lúc không thể ở vói nhau được nữa thì nên nhanh chóng ly dị cho rồi. Để rồi còn làm việc khác, thầy Khoa nhỉ.... Bởi vì, nếu muốn thực sự cống hiến cho xã hội thì thiếu gì cách, đâu phải chỉ là làm việc trong ngành giáo dục, và trong khu vực công. Vả lại, rõ ràng là chẳng ai có thể cống hiến được trong cái môi trường sư phạm mà thầy đã quyết định rời bỏ.

Câu hỏi cuối cùng còn lại về việc thầy Khoa là, cái case của thầy tiêu biểu hay là không tiêu biểu cho tình hình giáo dục của VN hiện nay?

Tôi e rằng câu trả lời của tôi lúc này thiên về tiêu cực hơn là tích cực. Vì phải chăng chính tôi cũng đã nhiều lần rơi vào tâm trạng giống thầy Khoa trước khi thầy phải đi đến quyết định nghỉ việc, dù hiện nay tôi vẫn còn đang làm việc và vẫn còn rất thiết tha với nghề giáo.

Tình hình giáo dục của VN, một đất nước luôn tự hào về truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo, chẳng lẽ lại có ngày đáng buồn đến thế này sao?