Thứ Hai, ngày 28 tháng 2 năm 2011

Bá Dương viết về Khổng tử và Nho giáo

Một entry về chủ đề Khổng tử và Nho giáo là điều tôi đã muốn viết từ rất lâu nhưng chưa dám viết. Chưa dám, vì biết mình chẳng có mấy hiểu biết về Khổng tử và Nho giáo, dù cũng biết rằng mình đang sống trong một nền văn hóa thấm đẫm những giá trị mà Khổng tử và Nho giáo đã để lại từ hàng nghìn năm nay. Nhưng vẫn muốn viết, vì có lẽ cũng như không ít người khác, tôi cảm thấy mặc dù di sản tinh thần mà Khổng tử và Nho giáo để lại cho chúng ta - trong đó có cả tôi nữa, tất nhiên - thật là đồ sộ, nhưng cái truyền thống văn hóa Khổng giáo này cũng rất nặng nề, ngột ngạt và gây nhiều điều tai hại.

Xét chung lại, công tâm mà nói thì thực tình tôi cũng không biết là giữa phần "công" và phần "tội" của Khổng tử và Nho giáo thì phần nào nặng hơn phần nào nữa. Riêng tôi, có lẽ vì ít nhiều chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Tây do hoàn cảnh mang lại, nên tôi thiên về quan điểm cho rằng Khổng tử mang lại những cái hại lớn hơn là những cái lợi. Tại sao ư, thực ra tôi chẳng có đủ chứng cứ và lập luận để chứng minh đâu, chỉ là cảm nhận cá nhân mà thôi.

Kỳ may là khi đọc Người TQ xấu xí của Bá Dương, tôi lại tìm thấy một đoạn nói về Khổng tử và Nho giáo. Đọc, và thấy những điều tôi muốn nói thì Bá Dương đã nói giúp hết cả rồi. Và những gì VN giống với TQ thì suy cho cùng cũng là vì giống như TQ, chúng ta đã tôn Khổng tử lên thành bậc thầy vĩ đại nhất, và có lẽ là duy nhất. Nhất nhất mọi việc chúng ta làm đều đã có đạo thánh hiền (thánh hiền đây là Khổng tử, đạo đây là đạo Nho) dạy bảo chi tiết rồi, chúng ta cứ việc theo đó mà làm thôi.

Các bạn đọc dưới đây nhé, và xem thử xem chúng ta cần tiếp thu Khổng giáo một cách có chọn lọc ra sao, để tránh trở thành "Cái vại tương" như TQ (lời của Bá Dương). Ấy vậy mà TQ hiện nay đang xây dựng hoặc hỗ trợ xây dựng rất nhiều trung tâm nghiên cứu Khổng giáo trên khắp thế giới, để mà phổ biến và xuất khẩu nền văn hóa Cái vại tương kia đến các nước (chư hầu?) đấy!

Cho nên, có học cái gì của ai thì cũng nên cảnh giác. Như nhà nước VN vẫn luôn cảnh giác với phương Tây trước nguy cơ diễn biến hòa bình. Tốt lắm, phương Tây hẳn là cũng thâm hiểm vì họ trước hết xuất phát từ lợi ích quốc gia, lợi ích cục bộ của họ. Nhưng chẳng phải nước nào cũng thế hay sao, kể cả TQ, nước láng giềng "núi liền núi, sông liền sông" (mà ranh giới lại không mấy rõ ràng nên lâu lâu báo chí của ta lại lẫn lộn địa danh, địa giới của ta thành địa danh, địa giới của TQ)? Thôi thì đó là việc của nhà nước (!), nhưng về mặt văn hóa, thì mỗi người chúng ta cũng phải tỉnh táo và cảnh giác, các bạn ạ, tôi nghĩ thế.

-------------
Tôi cho rằng Khổng Khâu (Khổng Tử) là một nhân vật vĩ đại, tri thức uyên bác, lại có một tấm lòng nhân hậu và những cống hiến lớn đối với xã hội. Cái Nho giáo do Khổng Khâu cùng những học phái Nho gia sau này lập ra đều đã ảnh hưởng đến người Trung Quốc một cách sâu rộng, và còn ảnh hưởng ngay cả đến chúng ta ngày nay. Nhưng tinh thần nhà Nho là một tinh thần bảo thủ, nói một cách nghiêm túc hơn thì nhà Nho không những rất bảo thủ mà còn phản tiến bộ.

Chữ "Nho" này vào thời Xuân Thu Chiến Quốc chỉ được dùng theo nghĩa sử dụng trong nghi lễ cúng tế. Một nhà Nho là một người hiểu biết cái trình tự cúng tế. Gặp lúc quốc gia cần các nghi lễ mới cần loại người này đóng góp ý kiến. Bản chất loại người này vốn nệ cổ. Thời đó chưa có lễ nhạc mới, phải dùng lễ nhạc thời cổ. Để có miếng cơm nhà Nho phải giữ gìn sao cho nghề nghiệp của họ được ổn định nên sinh ra thói nệ cổ. Nếu chúng ta không dùng từ nệ cổ, sùng bái những cái cũ, vì cho rằng nó có nghĩa xấu thì cũng phải bảo là họ rất bảo thủ.

Cái tinh thần bảo thủ này ở Trung Quốc đã trở thành một ý thức bền bỉ, làm cho xã hội mất hết sức sáng tạo, mất tập quán tự tìm hiểu, tự phê phán.

Bạn bè lúc nói chuyện về nước Mỹ (xin lỗi, tôi cứ múa búa trước cửa Lỗ Ban, tôi muốn nói chơi thôi, xin quý vị cứ nghe chơi chứ đừng tin thật!), có người nói về việc đàn áp chủng tộc, nào tàn sát dân da đỏ, ngược đãi da đen, kỳ thị da vàng. Tôi đã từng đi tham quan đảo Angel (En-giơn), đã được nhìn thấy chữ và những dòng thơ người Trung Quốc để lại nói lên những sầu thảm và đau khổ của đời họ.

Những khuyết điểm này của nước Mỹ có thật không? Dĩ nhiên là có thật, thậm chí còn hơn sự tưởng tượng của chúng ta nữa. Nhưng chúng ta phải lưu ý thêm một vấn đề khác, đó là đối với các khuyết điểm kia họ có khả năng sửa đổi không? Tự họ có ý thức được vấn đề không? Tình hình hiện nay so với trước có khá hơn không? Nếu không thì tiền đồ của nước này chắc chắn cũng không sáng sủa gì. Nếu có thì chúng ta phải thấy rằng đấy là một quốc gia vĩ đại, có một sức sống dồi dào.

Trước kia nước Mỹ có "cây treo cổ người", bây giờ không còn nữa. Xưa kia nước Mỹ đối với tù nhân có dùng "nhà lao nước". Bây giờ khi bắt bớ người, họ phải đọc điều thứ 9 của Hiến pháp cho người ấy. Nước Mỹ đã có những điều sai lạc, nhưng lại có năng lực sửa sai.

Nhưng dân tộc Trung Quốc chúng ta lại hoàn toàn không có năng lực này. Tình trạng nệ cổ lâu dài, không cầu tiến, bảo thủ, đã làm cho cái năng lực này tiêu tan.

-------------

Có ông thánh nói: "Biết mà không làm, không phải biết thật" (Tri nhi bất hành, bất vi chân tri). Biết và làm đều quan trọng, không kết hợp được hai cái đó với nhau thì không phải thật là biết. Hiểu được đoàn kết là sức mạnh, nhưng trong hành động lại không chịu đoàn kết thì cũng chưa thể cho là hiểu được.

Căn bệnh này không hẳn do bản tính của người Trung Quốc, mà vì mọi người ăn phải bả của bọn Nho gia học phái, rồi không tiêu hóa được. Thật ra Khổng Tử trên nguyên tắc đề xướng Chủ nghĩa cá nhân hơn là Chủ nghĩa tập đoàn. Khổng Tử thường lải nhải dậy dỗ các môn đệ, những "ông thánh bậc hai", về cái gọi là "giáo dục đại chúng". Thật ra cái giáo dục mà ông ta nói cũng chẳng khác nào số những hạt trân châu trong các vỏ trai. Phần lớn những điều dậy bảo của ông chỉ nhắm vào giáo dục cá nhân, khuyến khích chủ nghĩa cá nhân là chính.

Lý tưởng của nhà Nho cơ bản gồm hai điều:

Một là làm sao cho đám dân thường cúi mặt, cúp đuôi, không dám ngó ngàng gì đến chuyện chính trị, chuyện quốc gia đại sự, chỉ còn biết lo cho gia đình, tài sản riêng, như câu "Người khôn giữ mình" (Minh triết bảo thân), hoặc "Thức thời mới là người tài giỏi" (Thức thời vụ giả vi tuấn kiệt). Đây là một cách làm cho sức đề kháng của một con người trên phương diện xã hội càng ngày càng yếu đi.

Lý tưởng thứ hai là cầu xin kẻ nắm quyền nương tay đối với dân lành vô tội, lúc đạp lên đầu họ thì đạp nhè nhẹ một tí. Nên có chữ: "Hành nhân chính", nghĩa là thi hành chính sách nhân đạo.

-------------------

Bị chủ nghĩa thực dụng chi phối, hễ có người đụng một tý vào những việc khó khăn hay mạo hiểm là người Trung Quốc liền cho rằng đó là những thằng điên.

Châm ngôn của người Trung Quốc là: "Thân nghìn vàng (của ta) không thể ngồi trong ngôi nhà sắp đổ" (Thiên kim chi tử, tọa bất thùy đường), và "Tay không đánh nhau với cọp, không thuyền mà lội bừa qua sông lớn thì có chết cũng không ai thương tiếc, nhưng ta thì không thể nào như vậy!" (Bạo hổ bằng hà, tử nhi vô hối giả, ngô bất dữ giã - lời Khổng Tử khuyên Tử Lộ là học trò lỗ mãng).

Trên thế giới này biết bao việc mạo hiểm như nhảy dù từ trên không, đi thuyền qua thác nước, đi mô-tô qua tường lửa,v.v... đó chỉ là những thứ của mấy thằng khờ khạo, kiến thức nông cạn.

Người Trung Quốc chân chính không thể nào làm những thứ đó. Bởi vì theo họ nghĩ, ngoài việc tìm lấy những cảm giác mạnh ra, làm những thứ đó chẳng đem lại được một lợi ích thực tế gì.
----------------
Nói một cách ngắn gọn, di sản của Khổng tử và Nho giáo là gì? Là giữ nguyên trạng, là mỗi cá nhân hãy lo cái lợi ích cá nhân của mình, còn việc lớn đã có giai cấp cầm quyền, thống trị họ lo cả rồi. Mà họ thì như trời biển, như cha mẹ, thương dân không biết để đâu cho hết, và cũng đầy uy nghi quyền bính có quyền sinh quyền sát đối với ta, tóm lại nếu ta không tận tâm tận lực làm theo họ vì yêu quý họ, thì cũng phải tận tâm tận lực vì sợ họ. Cho nên để tồn tại tốt trong xã hội thì hãy biết sợ kẻ có quyền, và biết tự lo cho mình bằng mọi cách, biết tránh xa những rủi ro, mũ ni che tai, đèn nhà ai nấy rạng, khôn lỏi, đạo đức giả (nói cho đúng sách vở, kẻo lại bị ... phiền hà). Thử hỏi, một di sản văn hóa như vậy thì bao giờ chúng ta sẽ có được một xã hội dân sự với cơ chế tự sửa sai để mà tiến bộ như phương Tây?

Ôi, sao mà di sản văn hóa của chúng ta lại nặng nề đến thế nhỉ?

Bonus: Các bạn có thể download cuốn sách của Bá Dương ở đây. Tôi mua trên mạng, đã trả tiền (rẻ thôi), các bạn sử dụng miễn phí đấy nhé!

Chủ Nhật, ngày 27 tháng 2 năm 2011

"Tám cách để trở thành Mẹ Hổ"

Trước hết, hãy nói về Mẹ Hổ. Từ gốc tiếng Anh của nó là Tiger Mom, một từ mới trở nên buzzword trên báo chí tiếng Anh trong vòng vài tháng nay. Từ này xuất phát từ một cuốn sách rất nổi đình đám của Amy Chua, một nữ giáo sư giảng dạy tại Yale, là người Mỹ gốc Hoa (nhưng sinh ra tại Philippines, không phải tại TQ) sinh năm con cọp tức năm hổ (hình như là năm 1962, thua tôi 2 tuổi), người đã tự nhận mình là Mẹ hổ vừa vì mình là tuổi hổ, vừa vì bà tự nhận rằng mình là một bà mẹ dữ như ... cọp!

Cuốn sách của Amy Chua khi vừa xuất bản xong là gây ra một cuộc tranh luận khủng khiếp ở nước Mỹ. Tôi chưa đọc cuốn sách này, chỉ đọc những lời giới thiệu và những tranh cãi chung quanh cuốn sách, nhưng tựu trung phương pháp dạy con của bà mẹ hổ này cũng giống như nhiều gia đình châu Á khác là ép các con học, học, học suốt cả ngày, ngoài ra cần phải có sự vâng lời tuyệt đối đối với cha mẹ, thầy cô, tóm lại bí quyết thành công là làm việc đến vắt kiệt thân xác ra và ganh đua không mệt mỏi, và phải biết kính trọng và vâng lời những người có thẩm quyền trên cuộc đời mình. Làm đúng như thế thì thành công, không làm như thế thì sẽ bị phạt. Đại khái thế.

Một phương pháp giáo dục như vậy rõ ràng là trái ngược lại với phương pháp được áp dụng ở phương Tây, và lẽ ra phải bị đả phá dữ dội. Thế nhưng nước Mỹ gần đây dường như là đã bị mất sự tự tin trước một Trung Quốc đang lên hay sao ấy, đặc biệt là sau vụ học sinh Thượng Hải (Trung Quốc) đạt điểm kiểm tra PISA cao ngất ngưởng, hình như là đứng đầu thế giới, trong khi học sinh Mỹ thì thấp lè tè, hình như càng ngày càng tụt hạng. Vì vậy, công chúng nước Mỹ tỏ ra rất quan tâm đến phương pháp của Mẹ Hổ và tự đặt câu hỏi rằng phải chăng phương pháp của mình lâu nay là sai? Phải chăng cần áp dụng phương pháp của Mẹ Hổ?

Tất nhiên cũng có những người không đồng ý, nhưng một số người thì dường như đang bắt đầu cổ vũ cho việc phải thúc ép trẻ em học hành, làm việc chăm chỉ, vâng lời người lớn - đại khái là theo phương pháp dạy con của Mẹ Hổ - và đả phá cách giáo dục quá chiều chuộng trẻ em như ở Mỹ lâu nay.

Đấy, Mẹ Hổ là như thế đấy. Nên giờ đây mới có những người muốn thành Mẹ Hổ. Vậy làm thế nào để trở thành Mẹ hổ nhỉ? Dễ quá, bí quyết đây: Tám cách để trở thành Mẹ hổ. Đó là một bài viết ngắn đã được đăng ngày 30/1/2011 trên tờ Jakarta Post của Indonesia. Tác giả của nó, theo lời tự giới thiệu trong bài viết là một người đàn ông châu Á có vợ là người Âu-Mỹ. Tựa tiếng Anh của bài viết là "Eight ways to become a tiger mom".

Lạc đề chút: Làm thế quái nào mà tôi vừa mới giới thiệu xong một bài có tựa là "tám biện pháp cải thiện nền đại học Mỹ" trên trang ncgdvn của tôi cách đây vài ngày, thì nay lại giới thiệu "tám cách để trở thành Mẹ hổ", tức lại là số tám nữa. Lạ thật. Khéo tôi phải đi mua vé số với số đuôi là 88 đi thôi!

Quay trở lại bài viết. Các bạn có thể tìm thấy nó ở đây. Bài viết ngắn, thú vị, dễ đọc, các bạn nên tự đọc để củng cố tiếng Anh, hơn là đọc bài dịch của người khác. Vả lại, tôi cũng ... đâu có ý định dịch nguyên văn, vì ngán lắm.

Nhưng dù sao ... đã giới thiệu đến cỡ này thì tôi cũng xin trích dịch (dịch thoát thôi) vài đoạn ra đây để cho bài viết nó tạm đủ ý. Xin các bạn đọc ở dưới nhé. And enjoy!
---

Một nửa số bà mẹ mà tôi biết quả đúng là mẹ hổ, còn những người khác thì hiền lành, dịu dàng hơn. Chúng ta hãy so sánh họ.

1) Khi gặp cô giáo của con thì bạn sẽ hỏi gì? Mẹ thường: "Con tôi đi học có vui vẻ không?" Mẹ hổ: "Con tôi có đứng đầu lớp không?"

2) Khi con bạn mang bức tranh quệt màu nước vẽ bằng ngón tay từ nhà trẻ về khoe, bạn sẽ nói gì? Mẹ thường: "Đẹp quá! Cái hình này giống đám mây, còn hình kia giống như con thỏ." Mẹ hổ: "Con vẽ cái gì mà xấu vậy? Nguệch ngoạc như con nít." Mẹ thường nói với cô giáo: "Con bé nhà tôi thích vẽ lắm, nhờ cô giúp cho cháu thêm." Mẹ hổ: "Con bé nhà tôi ham vẽ lắm, cô phải làm sao cho cháu bỏ cái trò ấy đi. Nếu nói không được thì cô cứ đánh."

[...]

7) Bạn nói gì với ông xã khi con bạn bắt đầu có bạn? Mẹ thường: "Hay quá, nó bắt đầu có nhiều bạn bè rồi đó." Mẹ hổ: "Hư quá, nó bắt đầu học cái thói bạn bè đàn đúm rồi đó."

8) Bạn nói gì với cô giáo trong cuộc họp giữa phụ huynh với nhà trường? Mẹ thường: "Nhờ cô khuyến khích cháu cố gắng học hơn nữa, nhưng đừng cảm thấy căng thẳng." Mẹ hổ: "Cô cố làm sao cho cháu học được toàn điểm A ấy nhé. À mà này, tôi có súng đấy cô ạ, mà súng có đạn đấy."

Thế tôi khuyên bạn nên chọn phương pháp nào? Tôi chẳng khuyên gì ráo. Tôi là đàn ông, mà đàn ông thì đâu có phận sự gì trong mấy cái việc như thế này. Này nhé, Amy Chua sống ở phương Tây, lấy chồng Âu-Mỹ nhưng dạy con theo kiểu Á. Còn tác giả của bài viết này chỉ là một người đàn ông châu Á lấy vợ Âu-Mỹ, nhưng con cái của chúng tôi được dạy theo phương pháp của phương Tây.

Sự thực là như thế này: mẹ thì có hai kiểu, mẹ thường hay mẹ hổ. Nhưng vợ thì chỉ có một kiểu thôi, ấy là kiểu vợ hổ. Vì khi quyết định mọi chuyện trong nhà thì phụ nữ luôn luôn đóng vai trò chỉ đạo.

-----

Buồn cười quá, hải không các bạn? Thế các bạn có muốn trở thành Mẹ Hổ chăng? Hay ... chính các bạn đã là Mẹ Hổ (hoặc Mẹ Rồng) gì đấy rồi, nên không cần học cách trở thành Mẹ Hổ nữa? Tôi thì nghĩ như thế này: có lẽ các bà mẹ VN ta nên học cách làm sao để không còn là mẹ hổ nữa, thì đúng hơn nhỉ? (Nhân tiện, cái cách giáo dục của Mẹ hổ có liên quan gì đến việc tạo ra Người TQ xấu xí không nhỉ? Các bạn thử xem lại bài 1: "Ba câu nói" mà xem?)

Nhân tiện, các bạn đã đọc bài này cũng nên đọc thêm một bài viết khác để hiểu hơn về Mẹ Hổ. Bài ấy ở đây.

Thứ Ba, ngày 22 tháng 2 năm 2011

Người TQ xấu xí (6): "Tâm khẩu bất đồng"

Tâm khẩu bất đồng là cách nói của người TQ để chỉ cái mà người VN ta gọi là "nói vậy mà không phải vậy".

Nói vậy mà không phải vậy có lẽ là một trong những thói quen gây cho người phương Tây sự khó chịu lớn nhất khi làm việc với người Á Đông, trong đó có VN. Vì nó làm cho người ta rất mất thì giờ, đưa ra câu hỏi để mong nhận được câu trả lời thực, nhưng lại nhận được câu trả lời hoặc trái ngược với sự thật, hoặc lập lờ, ỡm ờ, chẳng ra có cũng chẳng ra không.

Tại sao lại như thế nhỉ? Tôi không rõ, nhưng tự nghĩ rằng đấy là một biểu hiện của đạo đức giả. Nguyên nhân của nó có thể chính là sự dề cao quá mức những giá trị "đạo đức" của thời phong kiến do Khổng tử để lại - chẳng hạn như, phải khiêm tốn, phải quan tâm đến người khác, không được tỏ ra quan tâm đến chính mình vì như thế là ích kỷ, và còn nhiều nhiều những giá trị khác nữa, như "công, dung, ngôn, hạnh" của phụ nữ, "cần, kiệm, liêm, chính" của người công bộc, "nhân, trí, dũng" của kẻ anh hùng ...

Những giá trị đạo đức này không phải là không tốt, nhưng cũng giống như căn bệnh thành tích trong giáo dục của VN, người ta đưa ra những đòi hỏi thiếu khả thi tế bất chấp khả năng đáp ứng của thực tế, và cứ thế áp đặt xuống cho tất cả mọi người. Tuyệt đối không chấp nhận bất kỳ sự trao đổi, phản bác, đóng góp và thay đổi gì cả đối với những yêu cầu đó. Ai làm khác, nói khác hoặc nghĩ khác thì đều bị lên án kịch liệt, có lẽ không còn có đất sống nữa.

Trong điều kiện đó thì người ta làm gì? Ừ, thì ... nói dối, cho xong. Giống như lạm phát điểm thi, lạm phát học sinh giỏi ở VN, vậy thôi. Vì nếu báo cáo lên cấp trên rằng tỉnh của tôi học sinh kém lắm, thi TN THPT chỉ đậu có 60% thôi, thì lập tức là tôi sẽ có vấn đề ngay. Trong khi đó, nếu tôi làm gian, nói dối, thì thực ra cũng chẳng ai biết, chẳng ai kiểm tra, mà ngay lập tức tôi sẽ được tưởng thưởng vì đã hoàn thành vượt mức chỉ tiêu trên giao!!!! Thì thử hỏi, làm sao mà không nói dối, không gian lận, không "tâm khẩu bất đồng" cho được?

Các bạn đọc đoạn trích bên dưới nhé, đọc để thấm thía cho những cái xấu trong nền văn hóa của TQ (và ... cả của VN chăng? Thì đã có người bảo VN với TQ là "đồng chủng, đồng văn" mà lại?)

--------
Nhiều người nước ngoài [...] nói với tôi là giao thiệp với người Hoa rất khó, nói chuyện cả ngày cũng chẳng hiểu trong thâm tâm họ nghĩ gì. Tôi bảo: "Cái đó thì có gì mà kỳ quặc? Không phải chỉ người Tây phương các anh, mà ngay cả người Trung Quốc chúng tôi cũng gặp vấn đề đó".

Nói chuyện với người Trung Quốc anh phải biết quan sát sắc mặt, điệu bộ, cử chỉ, phải biết quanh co úp mở. Hỏi người nào "Anh ăn cơm chưa?", anh sẽ nghe người đó đáp "Tôi ăn rồi!" nhưng kì thực anh ta chưa ăn, cứ để ý nghe thì thấy bụng anh ta hiện đang sôi lên sùng sục.

Lại nói ví dụ về chuyện tuyển cử. Nếu là người phương Tây thì tác phong như sau: "Tôi cảm thấy tôi có khả năng giữ chức vụ đó, xin mọi người hãy bầu cho tôi!". Còn người Trung Quốc sẽ xử sự như Gia Cát Lượng lúc Lưu Bị tới cầu hiền (tam cố thảo lư). Nghĩa là nếu được mời, anh ta sẽ năm lần bảy lượt từ chối, nào là "Không được đâu! Tôi làm gì có đủ tư cách!" Kỳ thực, nếu anh tưởng thật mà đi mời người khác thì anh ta sẽ hận anh suốt đời.

Chẳng khác nào nếu anh mời tôi diễn giảng, tôi sẽ nói: "Không được đâu, tôi chẳng quen nói chuyện trước công chúng!" Nhưng nếu anh thật sự không mời tôi nữa, sau này nếu nhỡ lại gặp nhau ở Đài Bắc, có thể tôi sẽ phang cho anh một cục gạch vào đầu.

Một dân tộc hành xử theo kiểu này không biết đến bao giờ mới có thể sửa đổi được lầm lỗi của mình; sẽ còn phải dùng mười cái lỗi khác để khỏa lấp cái lỗi đầu tiên, rồi lại dùng thêm trăm cái khác để che đậy mười cái kia thôi.

Có lần tôi đến một trường đại học ở Đài Trung để thăm một vị giáo sư người Anh. Một anh bạn tôi cũng dạy cùng đại học đó chợt đến. Thấy tôi, anh nói: "Tối nay đến đằng tôi ăn cơm". Tôi đáp: "Xin lỗi, tôi còn có hẹn". Anh bảo: "Không được, nhất định phải đến". Tôi trả lời: "Được rồi, ta bàn sau". Anh lại bảo: "Nhất định phải đến đấy, xin chào!" Giữa người Trung Quốc với nhau chúng tôi hiểu rõ tâm lý của nhau. Nhưng người Tây phương lại hoàn toàn mù tịt.

Đến lúc làm việc xong, khoảng giờ cơm tối, tôi bảo: "Thôi, tôi phải về đây!" Người giáo sư Anh nói: "Ê! vừa rồi chẳng phải anh vừa hẹn với anh kia sao? Anh phải tới nhà anh ta chứ!" Tôi bảo: "Làm gì có chuyện ấy?". Ông giáo sư nói: "Anh ấy nhất định là đã làm cơm chờ anh đấy!" Người nước ngoài thật khó mà biết được cái kiểu "tâm khẩu bất đồng" này của người Trung Quốc.

Tình trạng nói trên khiến người Trung Quốc ngay từ thủa lọt lòng đã rất khốn khổ. Bởi vì mỗi ngày đều phải tìm hiểu ý tứ người khác. Nếu là bạn bè đồng lứa thì còn đỡ, nhưng nếu phải tiếp cận với những kẻ quyền thế, quan trên, kẻ có tiền, anh sẽ phải từng giây từng phút khổ công tìm hiểu đến nơi đến chốn, xem họ nghĩ gì. Cái việc này là một sự lãng phí tinh thần kinh khủng.

Cho nên có câu tục ngữ: "Tại Trung Quốc làm việc dễ, làm người khó".

Nghệ thuật "làm người" thuộc về cái "văn hóa thân mềm" (để dễ uốn cong, chui luồn, nghĩa bóng đến từ động vật thân mềm). Các vị ở nước ngoài lâu năm về lại Trung Quốc chắc biết cái sức nặng của câu này như thế nào. Làm việc thì dễ như 2 + 2 = 4, nhưng làm người khó bởi vì có khi 2 + 2 = 5 , hoặc cũng có khi = 1, hay = 853. Anh nói sự thật, nhưng người ta lại cho rằng anh công kích và muốn lật đổ chính quyền. Đây là một vấn đề nghiêm trọng, nó làm cho chúng ta không thể nào thoát khỏi sự nói khoác, nói suông, nói dối, nói độc.
----
Viết thêm: Đã đọc cuốn sách này mấy lần rồi, nhưng bây giờ đọc lại đoạn trích trên, tôi vẫn thấy đáng ngán ngẩm, chỉ biết thở dài mà chẳng biết nói sao! Vì ... hình như VN mình cho đến giờ vẫn cứ như thế thì phải" "Bốn ngàn năm ta lại là ta" mà lại!

Thứ Hai, ngày 21 tháng 2 năm 2011

"Chưa điều tra là quan tốt, điều tra là quan tham"

Tôi đang viết loạt bài giới thiệu về cuốn sách Người TQ xấu xí. Viết, vì thấy những cái xấu xí của TQ sao giống VN quá!

Loạt bài chưa hết, vì cuốn sách theo tôi vẫn còn những chỗ đáng đọc. Nhưng tôi ngưng lại vì viết mãi một kiểu không đổi món có lẽ cũng hơi ngán.

Tình cờ hôm nay đọc được bài này trên Tuần VN, và thấy cần phải giới thiệu lên đây. Mà cũng tình cờ sao, nó lại cũng là TQ, và cũng xấu xí. Lại liên quan đến chốn quan trường nữa chứ, hay thật. Chuyện thật, của ngày hôm nay đấy nhé, chứ không phải là những nhận định chủ quan của tác giả Bá Dương đâu.

Thôi thì đưa lên đây để lưu và giới thiệu với mọi người. Và để suy nghĩ về VN hiện nay. Tôi chợt nhớ cụm từ "các quan chưa bị lộ" của VN. Các quan ấy đều là quan tốt, được vinh danh đều đều, cho đến khi ... bị lộ. Nên phải có quan hệ tốt với mọi người trong chốn quan trường, để cho người ta để yên cho mình. Bằng không, người ta sẽ điều tra cho ra thì quan tốt thành quan xấu ngay lập tức!

Quan như thế, dân thì ... mê tín (đọc về cướp ấn đền Trần sẽ rõ), giá cả thì leo thang chóng mặt, nông dân thì bỏ đồng ruộng đổ xô về thành phố kiếm nghề vặt vãnh để sinh sống, TQ thì tuyên bố biển Đông của ta là lợi ích cốt lõi của họ, vậy thì tương lai đất nước sẽ đi về đâu nhỉ?

Tôi có quá bi quan không? Vậy mà người VN thì vẫn lạc quan nhất thế giới đấy!

Còn về bài viết, các bạn đọc những đoạn trích đáng lưu ý bên dưới nhé. Bài gốc ở trên Tuần VN, hôm nay.

----------------
Ngày 12/2, mạng Tân Hoa đưa tin từ Bắc Kinh: 1 cán bộ phụ trách hữu quan của Ban Kỷ luật Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã xác nhận việc ông Lưu Chí Quân, Bí thư Tổ đảng bộ Đường sắt Trung Quốc và là Bộ trưởng Bộ này bị tình nghi vi phạm nghiêm trọng kỷ luật, hiện đang tiếp nhận sự điều tra của tổ chức đảng.

Hệ thống đường sắt Trung Quốc đúng là đã có tác dụng lớn đối với nền kinh tế quốc dân và đời sống nhân dân Trung Quốc. Nhưng trong một thời gian dài, ngành đường sắt đã tồn tại những vấn đề nghiêm trọng, chỉ lo kiếm lời, chất lượng phục vụ cực kém. Tình trạng ấy liên quan tới chuyện hệ thống quan chức do Lưu Chí Quân đứng đầu không chịu cố gắng làm việc và nạn tham nhũng nặng nề.

Nhiều năm trước đây trong dân chúng đã có lắm tin đồn về sự tham nhũng của Lưu Chí Quân. Nhưng cho tới nay việc này mới được phanh phui. Đúng là không thể lật ngược được quy luật và số phận "Chưa điều tra thì là quan tốt, đã điều tra thì đều là quan tham".

Không thể phủ nhận, trong thời gian Lưu Chí Quân làm Bộ trưởng, ngành đường sắt Trung Quốc đã phát triển mạnh mẽ, nhất là đường sắt cao tốc, thậm chí có khả năng cạnh tranh quốc tế, khiến mọi người lác mắt. Đã nhiều lần ông Lưu ngực đeo bông hoa đỏ lớn, tươi tỉnh xuất hiện trong các hoạt động công chúng, đi đâu cũng tiền hô hậu ủng, vỗ tay như sấm. Nhưng trong thời kỳ Lưu Chí Quân lãnh đạo, ngành đường sắt Trung Quốc từng xảy ra mấy vụ tai nạn giao thông và tham nhũng lớn, có ảnh hưởng sâu xa.

Ngày 28/4/2008, trên tuyến đường sắt Tế Nam-Thanh Đảo (tỉnh Sơn Đông) xảy ra vụ đâm tàu làm chết 72 người, bị thương 416 người, tắc giao thông hơn 21 giờ, khiến cả thế giới hãi hùng. Thế mà mãi tròn một năm sau Bộ trưởng Lưu Chí Quân mới bị kỷ luật cảnh cáo ghi lý lịch.

Anh ruột Lưu Chí Quân là Lưu Chí Tường, nguyên Phó Cục trưởng Cục Đường sắt Vũ Hán, vì thuê hung thủ giết người nên bị kết tội cố ý làm hại người khác, và phạm tội tham nhũng. Ông này từng bị Tòa án phán quyết tử hình hoãn thi hành 2 năm và tước đoạt quyền lợi chính trị suốt đời, bị tịch thu tài sản 1 triệu NDT (Nhân dân tệ, 1 NDT tương đương 0,1516 USD) và truy nộp hơn 40 triệu NDT thu nhập bất hợp pháp.

Nhưng những việc đó chẳng những không làm suy suyển chiếc ghế của Lưu Chí Quân mà khi Chính phủ khóa trước hết nhiệm kỳ, ông ta lại lần nữa được cử làm Bộ trưởng Bộ Đường sắt. Cây to rễ sâu, cành lá sum sê, Lưu Chí Quân tha hồ hô phong hoán vũ trên sân khấu đường sắt Trung Quốc.

[...]

Hiện chưa có công bố chính thức về việc Lưu Chí Quân phạm kỷ luật như thế nào. Nhưng theo một số báo đài thì việc ông ta "ngã ngựa" có liên quan tới vụ Đinh Thư Miêu, tức vụ việc đầu tư xây dựng đường sắt. Một tin nói "Lưu Chí Quân có 18 bồ nhí", từng nhận hối lộ vài tỷ NDT, dính líu tới việc đấu thầu làm đường sắt cao tốc và nhiều công ty niêm yết chứng khoán tại Hồng Kông, Thượng Hải.

[...]

Các dự án xây dựng đường sắt cao tốc quy mô cực lớn là nguyên nhân chính khiến cho ngành đường sắt nợ như chúa chổm. Thống kê cho thấy, riêng lãi vay ngân hàng mà Bộ Đường sắt Trung Quốc phải trả trong năm 2009 là hơn 40 tỷ NDT. Chi phí trả lãi vay hàng năm sắp sửa lên đến con số 100 tỷ NDT.

Lưu Chí Quân kiếm được những khoản lợi kếch sù qua các vụ đấu thầu làm đường sắt cao tốc. Đồng thời trong Bộ Đường sắt tồn tại các hiện tượng chính quyền và công ty nhập nhèm với nhau, chỉ bổ nhiệm chức vụ cho người thân.
------------
Các bạn đọc đi rồi thử trả lời giúp tôi câu này: Tình hình tại VN theo các bạn cũng giống như vậy, hay là khá hơn? Nếu xét số vụ bị phanh phui và kỷ luật nặng như thế này thì chắc chắn là ở VN ít hơn nhiều rồi đó!

Phải chăng đó là điều khiến cho ta có thể lạc quan?

Thứ Năm, ngày 17 tháng 2 năm 2011

Người TQ xấu xí (5): "Quan trường"

Có một người bạn gửi mail hỏi tôi, định viết loạt bài Người TQ (người VN?) xấu xí này đến bao giờ thì dừng lại?

Bao giờ ư? Tôi cũng không rõ là bao giờ, vì thực ra chẳng có ý định gì. Thấy cái gì hay hay thì trích lên thôi mà. Chỉ là để chia sẻ với các bạn chưa đọc cuốn sách này. Hoặc đã đọc rồi, nhưng vẫn muốn đọc lại.

Và cũng cám ơn các bạn đã gửi comments - Secret Garden, Trang La, và cuadong. Tôi đang trong giai đoạn ... làm biếng và mệt mỏi quá, nên không có comments để trả lời các bạn được, rất xin lỗi các bạn. Nhưng vẫn hiểu nhận và đọc comments luôn là một phần thưởng của người viết blog, vì biết là có người cùng chia sẻ những suy nghĩ được viết ra của mình. Và đó là lý do của mấy dòng cám ơn này.

Bây giờ thì xin mời các bạn đọc tiếp nhé, bài viết về quan trường của TQ. Chẳng biết các bạn nghĩ sao, chứ tôi đọc mà thấy rùng mình kinh sợ cho cái quan trường của TQ thời phong kiến (chẳng biết thời nay thì thế nào nhỉ, chắc là ... cũng rứa mà thôi!) Và đặc biệt còn kinh sợ hơn vì cái chế độ quan trường ấy hiện nay vẫn tồn tại nghiễm nhiên, rõ mồn một, và hình như đang có đà ngày càng phát triển tại VN.

Tôi hy vọng là tôi nói sai. Vì nếu quả như tôi nghĩ, thì thử hỏi, VN sẽ phát triển như thế nào nhỉ?

----
Chúng ta phát hiện được trong lịch sử Trung Quốc một hiện tượng kỳ quái mà các nước khác không có, đó là chế độ khoa cử, hay gọi tắt là "Quan trường".

Nhật Bản hấp thụ văn hóa Trung Quốc một cách toàn diện. Không cái gì Trung Quốc có mà họ không từng tiếp nhận, từ cái nhỏ như manh chiếu (Tatami), đôi guốc (Geta), đến cái lớn như chế độ, tổ chức chính trị, v.v.., nhưng chỉ có một điểm mà họ không tiếp nhận, mà điểm này đã giúp họ trở thành một nước hùng cường rất nhanh chóng trong thời Minh Trị Duy Tân, đó là chế độ khoa cử.

Chế độ khoa cử Trung Quốc cũng có những tác dụng tốt, nhưng lại đẻ ra "vấn đề quan trường". Quan trường là một cái mạng nhện kỳ quái, nhìn thì không thấy, sờ không đụng, nhưng lúc bị rơi vào rồi mới biết. Ta không thể dùng chữ Bureaucrats tiếng Anh để dịch chữ "quan liêu" trong tiếng Trung Quốc được, bởi chữ này không lột tả hết được cái đặc trưng của nó. Quan liêu chẳng trung thành với quốc gia, lãnh tụ gì cả, chỉ tận tâm tận lực với kẻ cất nhắc nó lên làm quan. Các triều đại Trung Quốc có thể thay đổi, song quan trường vẫn thế.

Người Mãn Thanh sở dĩ thống trị được người Tây Tạng, người Mông Cổ, người Hán vì biết nhắm vào nhược điểm của các dân tộc này.

Đối với người Tây Tạng họ dùng đạo Lạt-ma, mời những tăng lữ lạt-ma đến Bắc Kinh và đối xử với họ cực kỳ cung kính.

Đối với người Mông Cổ thì họ dùng thủ đoạn hôn nhân, gả những công chúa cho những hoàng tử Mông Cổ, con cái lai sinh ra thành ra con cháu của mình, đem chúng nuôi dưỡng ở cung đình nhà Thanh. Các vương tử đó một khi lớn lên không thể nào phản lại chú bác cô dì của chúng.

Trong khi đó công chúa Mãn Châu không bao giờ lấy người Hán. Người Mãn Châu trị người Hán bằng phương pháp khoa cử. Họ biết người Trung Quốc có cái khuyết điểm là thích làm quan. Nếu tôi cho anh cái hy vọng được làm quan thì anh có thể ngoan ngoãn đem giao ngay hết cả ý thức dân tộc lẫn phẩm giá con người.

Sở dĩ "Quan trường" có cái bộ mặt của các xã hội thần bí vì nó mang những tiêu chuẩn cư xử và những quan niệm về giá trị rất đặc thù.

Nó không trung thành với vua, vua thay thì nó vẫn làm quan. Nó cũng không sợ mất nước, nước mất, chỉ cần nó vẫn được làm quan thì nó vẫn làm. Cái xã hội ăn chơi, phù hoa là nơi các quan ra oai, tự nhiên hình thành một hệ thống tương hỗ bao che giữa các quan với nhau - một quan hệ vô cùng phức tạp.

Quyển sách "Quan trường hiện hình ký" là một quyển sách phân tích cái cấu trúc của chế độ quan trường Trung Quốc dưới cặp mắt nghiên cứu những vấn đề xã hội. Bởi vì từ khi quan trường được thiết lập, những quan hệ giữa người với người tại Trung Quốc càng trở nên tinh xảo. Các vị ở Mỹ lâu năm có thấy rằng cái quan hệ giữa con người ở Mỹ so với Trung Quốc thì quá đơn thuần không?

Ở Trung Quốc có một câu nói: "Làm việc thì dễ, làm người thì khó!". Làm người là thế nào nhỉ? Tức là làm sao cho cái quan hệ giữa con người với nhau được tốt đẹp.

Có một vở Kinh kịch (kịch Bắc Kinh) nhan đề "Thẩm đầu thích thang" (khám đầu tìm kẻ giết ông Thang) trong đó có một quan tòa, một vị bồi thẩm và một góa phụ nhan sắc xinh đẹp mà chồng vừa bị mưu sát. Trong phiên tòa người đàn bà góa ôm một đầu người đứng khóc.

Nhiệm vụ của tòa là phải xác minh xem đấy là đầu của ai. Nếu đúng là đầu của chồng bà ta thì vụ án xem như có thể kết thúc. Nhưng nếu là đầu của một người khác thì vụ án này còn liên quan đến rất nhiều người, và có thể sẽ còn nhiều người khác sẽ chết. Ông bồi thẩm có ý thích người đàn bà góa trẻ đẹp này, và bà này cũng ra ám hiệu cho ông ta biết là bà ta sẽ ưng thuận tái giá với ông ấy, nên ông này một mực rằng đấy là đầu của chồng bà ta. Nhưng sau khi xem chừng vụ án có vẻ xong xuôi, bà góa bèn tỏ ý không muốn lấy ông bồi thẩm nữa. Ông này cũng lập tức quay phắt ra nhất quyết bảo cái đầu ấy lại không phải là của chồng bà ta nữa. Vở kịch này tiêu biểu cho cái phản phúc trong quan hệ quan trường của người Trung Quốc chúng ta. Đầu thật, đầu giả cho đến phút cuối cùng cũng không ai có thể biết như thế nào.

Tôi nghĩ rằng trong chúng ta nhiều người đã về làm việc ở Trung Quốc hoặc sẽ về làm việc trong tương lai, tôi tin chắc khó khăn các vị gặp phải thường không dính dáng đến bản thân công việc, mà dính đến những người cùng làm việc với các vị.

Nói ví dụ anh làm việc ở một lò nguyên tử. Anh có biết gì về nguyên tử hay không, đó là một vấn đề thuộc công việc. Nhưng sẽ rầy rà to nếu một hôm anh cần một đinh ốc cho lò phản ứng mà người quản lý ốc vít lại nghỉ việc. Anh ta bị ốm, đương nhiên xin nghỉ, anh không thể cấm người ta ốm được. Nhưng sự thật anh ta lại không hề cảm cúm gì cả, chỉ nghỉ để đi đánh mạc chược? Tại sao?

Bởi vì quan hệ giữa anh và người ấy không được tốt đẹp. Cái lò nguyên tử của anh có hoạt động được hay không, thậm chí có bị nổ tung đi nữa, cái việc ấy người đó cũng cóc cần. Nếu anh bảo nước nhà bị thiệt hại thì cũng kệ, tôi cứ việc quan tôi làm.

Đó là cái đầu óc quan trường tích lũy từ mấy nghìn năm, một chứng bệnh vẫn còn duy trì đến cuộc Bắc Phạt của quân Cách mạng Quốc dân năm 1928.

Về mặt quân sự, trong khi quân đội đánh dẹp các sứ quân ở miền Bắc, thì về mặt chính trị cái chất độc của quan trường lại tràn xuống miền Nam. Trước kia giữa những đồng chí cách mạng tình cảm rất trong sáng, nhưng khi đã bị cuốn hút vào giới quan trường bỗng trở thành phức tạp ghê gớm, phức tạp đến độ một người lành mạnh không thể nào chịu nổi.

Cái quan hệ giữa con người với nhau trở thành một loại keo dính đến độ hễ dán vào rồi là không thể nào gỡ ra được nữa. Có ai trong các vị thấy điều đó khi về nước không?

Lấy một ví dụ khi anh về nước, bạn bè mời anh đi ăn cơm, anh dám cả gan từ chối thì tình bạn sẽ từ đó bị sổ toẹt ngay. Đó là đặc tính của quan trường, nó làm cho quan hệ con người trở nên khúc mắc ghê gớm. Tại sao lại như thế ? Tại sao anh ta phải xử sự như vậy? Bởi vì làm như thế thì cái địa vị của anh ta mới càng thêm vững chắc.

Tôi có một người bạn về Đài Loan được một người chưa hề quen mời ăn cơm. Sau khi ăn xong, người này mới nhờ anh đem dùm về Mỹ một món đồ. Người này làm ra vẻ nhờ vả rất tự nhiên, như thể bạn bè vẫn thường giúp đỡ nhau chứ không phải đánh đổi một bữa cơm để lấy chuyện đưa đồ.

Cái hiện tượng quan trường là như vậy, giống kiểu anh làm lò nguyên tử, cái lò phản ứng hạt nhân này rất nguy hiểm không phải ai cũng mó vào được. Nhưng người nọ lại cho rằng đã là bạn bè với nhau cho anh ta sờ đến một cái thì đã sao.

Thường thường một người trước khi làm quan và sau khi được làm quan là hai loại người khác nhau. Thật ra nói như vậy không lô-gíc. Chỉ có thể nói rằng hễ cái "quan tính" của một người càng hưng thịnh thì cái nhân tính của người đó càng biến mất đi. Không còn nhân tính nữa, chỉ còn cái quan tính lúc làm quan. Cho đến một ngày tất phải về hưu, lúc đó cái nhân tính may ra mới hồi phục.

Thứ Tư, ngày 16 tháng 2 năm 2011

Người TQ xấu xí (4): "Xấu che tốt khoe"

"Xấu che tốt khoe" là tựa do tôi đặt cho phần trích dẫn này, còn bản gốc của nó do Bá Dương viết và Nguyễn Hồi Thủ dịch thì có tựa là "Kỳ thị chủng tộc".

Thì đúng là bài viết của Bá Dương nói về kỳ thị chủng tộc thật. Nhưng cái làm cho tôi ấn tượng nhất về bài viết lại là đoạn viết về thói quen "xấu che, tốt khoe" của người TQ (mà theo tôi thì VN mình cũng y hệt thế).

Bá Dương so sánh thói quen "xấu che, tốt khoe" đó của người TQ với việc một người bị bệnh trĩ khi thấy hậu môn bị chảy máu thì bèn lấy tay che lại mà giả vờ rằng chẳng có gì xảy ra cả; nếu ai có nói đến việc ấy thì chẳng qua đó là đổ điêu, vu khống, bôi nhọ, và hẳn là phải có ý đồ gì đó xấu xa. Và để người ta không nói động đến mình nữa thì cứ bài chụp mũ có ý đồ xấu mà đánh, thì ắt người ta phải đầu hàng và cao bay xa chạy. Lúc ấy, búi trĩ của mình bỗng nhanh chóng biến mất - mặc dù kỳ thực là nó vẫn còn nguyên đấy, nhưng bỗng trở thành vô hình (cũng như chiếc áo của đức vua cởi truồng ấy thôi!).

Một thói xấu khác đáng lưu ý của người TQ là tinh thần cục bộ, địa phương, lấy cá nhân mình, gia đình mình, địa phương mình làm chuẩn mực để quy chiếu mọi việc và là tiêu chuẩn để phán đoán mọi giá trị của cuộc sống, đồng thời là nguyên tắc ứng xử trong đời.

Và tính cách này sao cũng rất giống người Việt Nam. Có lẽ ở VN không ai lại không biết câu "một người làm quan, cả họ được nhờ". Thói ấy, cứ tưởng là chỉ có ở thời phong kiến ở VN, nhưng hóa ra đến nay nó vẫn cứ tồn tại, có những nơi rất rõ. Tôi đã chứng kiến khá nhiều nơi mà cứ mỗi lần thay đổi lãnh đạo tại một cơ quan thì lại thấy kéo theo một lô nhân sự mới, là con, là cháu, là người làng, người nước, là đồng hương, đồng khói của vị sếp mới ấy. Bất chấp năng lực, tất nhiên.

Bài viết của Bá Dương lời lẽ có lẽ hơi thô tục, gây shock. Và sử dụng rất nhiều ngoa ngữ, ca ngợi nước Mỹ lên tới mây xanh và đánh hạ TQ xuống đến đáy bùn đen. Hẳn là khi ra đời hẳn phải có nhiều người căm hận, chửi rủa.

Nhưng tôi nghĩ, nếu Bá Dương đã không viết như thế thì có lẽ ngày nay TQ đã chẳng tỉnh ngộ như thế này, để nhận ra những cái chưa tốt của mình, để mà còn điều chỉnh. Cho nên cái liệu pháp shock của Bá Dương có lẽ cũng cần thiết, và đã có tác dụng tốt chăng?

Các bạn đọc tiếp ở dưới nhé.

-----------
Có bao giờ anh nghe nói người Mỹ của tiểu bang Virginia tẩy chay người của tiểu bang Arizona chưa? Hoặc người Nhật ở đảo Honshu (Bổn châu) tẩy chay người ở đảo Shikoku (Tứ Quốc) không? Thế mà cái kỳ thị chủng tộc của người Trung Quốc so với cái kỳ thị của người Mỹ còn kinh khủng hơn nhiều.

Nếu ta đem kết hợp lại với nhau những ý niệm rất hẹp hòi kiểu "Con cháu của Hoàng Đế và Thần Nông", "Đại Hán oai trời", "Không phải là tộc loại của chúng ta", "Lòng dạ khác chúng ta" thì chỗ còn lại cho người các dân tộc khác sống sẽ chẳng còn gì?

Có một số người Trung Quốc ở Mỹ - địa vị xã hội cũng chẳng hơn gì những người Mỹ da đen nhưng lại xem những người này không đáng một đồng xu - hễ cứ nhắc người Mỹ da đen thì lại lắc đầu lia lịa như bị động kinh. Cái hành vi khinh thị ấy có thể làm cho người ta tức mà chết được. Không ai có thể tưởng tượng nếu 11% của dân Trung Quốc là da đen hoặc da đỏ thì mấy ông da vàng kia sẽ sốt lên đến bao nhiêu độ?

Người không cùng một tỉnh đã không thể chấp nhận, bao dung lẫn nhau rồi! Đối với người không cùng một chủng tộc không biết sự thể sẽ như thế nào?

Kỳ thị chủng tộc là một thứ quan niệm ghẻ lở, nó dai dẳng và lây lan. Nhưng cái đáng làm ta ngạc nhiên, kinh dị là phương pháp nước Mỹ dùng xử lý cái loại ghẻ lở đó. Phương pháp của họ có thể không giống Trung Quốc, vì phương pháp Trung Quốc là: "Dấu bệnh vì sợ phải chữa" (Húy tật kỵ y) và "Cái xấu trong nhà không thể để lộ ra ngoài" (Gia xú bất khả ngoại dương). Sự thực đó là nguyên tắc chứ không phải phương pháp.

Phương pháp "chân chính" là một đằng bị chảy máu ở hậu môn lại lấy tay che đít nói: "Không, tôi có bị bệnh trĩ hành hạ đâu? Ai bảo tôi có bệnh trĩ tức là có ý đồ hoặc có lòng dạ gì đó!" Có cái "ý đồ" gì đó là một vũ khí truyền thống toàn năng. Chỉ cần tung nó ra, niệm vài câu thần chú là đối phương phải vắt giò lên cổ mà chạy; đồng thời cái búi trĩ kia bỗng nhiên lành lại.

Ồ! Xin lỗi! Tôi nhỡ mồm! Không phải cái búi trĩ kia bỗng nhiên lành mà tự nó đang ở tình trạng có bệnh bỗng nhiên biến thành tình trạng không có bệnh gì cả. Con giòi của hũ tương, cái con người dị dạng, chỉ biết che dấu bệnh của mình chứ không muốn chữa nó.

Nước Mỹ là một xã hội lành mạnh, cường tráng đến độ nó có thể tự điều chỉnh mình. Thay vì lấy tay che đít thì cái phản ứng của nó lại là nói toáng lên cho mọi người biết: "Tôi có bệnh trĩ đây! Mỗi ngày tôi bị chảy mất 8.000 ga-lông máu [gallon = khoảng hơn 4 lít]. Tôi muốn biết giá của một chiếc quan tài là bao nhiêu?" Tất cả mọi người đều biết thì mọi người đều ý thức rằng mình có liên quan. Sau đó tiêm thuốc, uống thuốc, mổ xẻ, biến ghế gỗ thành ghế xô-pha, biến cái lưng còng thành lưng thẳng để có thể đứng thẳng lên được.

Tất cả các phương tiện truyền thông hay văn học đều phải nói lên cái kỳ thị chủng tộc này, làm cho mọi người đều biết, làm cho mọi người đều sợ vì thấy mình có liên quan. Một xã hội lành mạnh phải dựa trên một tâm lý lành mạnh của người dân - người dân có trí tuệ biết tôn trọng sự thực, có dũng cảm thừa nhận những sai lầm, có năng lực tự sửa đổi.

Kỳ thị chủng tộc là một sai lầm. Đó là một sự thực không thể chối cãi. Người Mỹ có được cái trí tuệ và dũng cảm tìm cách sửa đổi và giải quyết một cách thỏa đáng những lỗi lầm. Họ có khả năng lựa chọn những quyết định đúng đắn khiến cho sự kỳ thị chủng tộc dần dần bớt đi, và có thể một ngày nào đó không còn nữa.
-----
Nói tiếp về phần chót của bài viết: Bá Dương đã mất từ lâu nên không chứng kiến được nước Mỹ đã chứng minh khả năng tự cải thiện thói "kỳ thị chủng tộc" của mình một cách xuất sắc, thông qua việc đưa một người da đen lên vị trí lãnh đạo cao nhất của đất nước: Tổng thống Obama. Ước mơ của mục sư Martin Luther King, tác giả bài diễn thuyết lừng lẫy "I have a dream" đã thành hiện thực, quá rõ ràng.

Có lẽ sau khi có cuốn "Người TQ xấu xí" thì người TQ cũng đang dần tự cải thiện. Còn Việt Nam?

Những gì tôi được đọc và nghe phổ biến về VN đa phần chỉ là những gì đẹp đẽ, như cuốn sách "Người Việt cao quý" của Vũ Hạnh, hay những câu thơ ... ngạo nghễ mà tôi đã được học hồi phổ thông:

"Hỡi sông Hồng đất nước 4000 năm
Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?
...
Thuở đất nước của Hùng Vương có Đảng
Mỗi người dân đều được thấy Bác Hồ"
...

"Có gì đẹp trên đời hơn thế
Người yêu người sống để yêu nhau!"

...
"Chào sáu mốt (1961) đỉnh cao muôn trượng
Ta đứng đây mắt nhìn tám hướng
Trông lại nghìn xưa trông tới mai sau
Trông Bắc trông Nam trông cả địa cầu!"

Ta cao quý thế, đẹp đẽ thế, ngạo nghễ thế (theo thơ Tố Hữu thì ta đã ngạo nghễ từ năm 1961 kia mà, lúc ấy ta đã đỉnh cao muôn trượng, mắt nhìn tám hướng, trông cả địa cầu rồi cơ đấy), vậy thì còn cần gì phải cải tiến nữa! Dường như các vị lãnh đạo cộng sản VN luôn luôn có tâm trạng "những ngày tôi sống đây là những ngày đẹp hơn tất cả/Dù mai sau đời muôn vạn lần hơn!" nên không cảm thấy phải cải cách gì (nhưng, chẳng lẽ không có ai thấy 2 câu thơ ấy là rất mâu thuẫn hay sao?)

Thứ Hai, ngày 14 tháng 2 năm 2011

Người TQ xấu xí (3): "Giữ mình là thượng sách!"

Lại một thói xấu khác của người VN, ấy quên, người TQ chứ! Nhưng ... sao Bá Dương viết về TQ mà giống viết về VN đến thế nhỉ?

Người TQ thì tôi không biết, nhưng "giữ mình là thượng sách" quả đúng là một đặc tính của người Việt Nam mình. Hoặc ít ra, những người Việt Nam mà tôi biết.

Vì tôi đã từng nhiều lần nghe thấy những lời khuyên đại khái là "Kệ, việc của người ta, quan tâm làm gì, chừng nào đụng đến mình hẵng hay!" khi tôi bày tỏ những bất bình về những việc làm sai trái của những người mà tôi tình cờ có thông tin.

Còn đây là quan điểm "giữ mình là thượng sách" của người TQ do Bá Dương mô tả, để cho chúng ta so sánh với đặc tính của người Việt. Các bạn đọc bên dưới nhé.

-----------
Khổng Tử có một đoạn văn nói cách tránh tai họa rất cao siêu như thế này: "Nước bị nguy thì không nên vào, nước bị loạn thì không nên ở. Lúc thiên hạ có đạo lý thì ta xuất đầu lộ diện, lúc không có thì ta ở ẩn. Nước có đạo lý mà nghèo hèn là nhục. Nước vô đạo mà phú quý cũng là nhục" (Nguy bang bất nhập, loạn bang bất cư, thiên hạ hữu đạo, tắc kiến. Vô đạo, tắc ẩn. Bang hữu đạo, bần thả tiện, sỉ dã. Bang vô đạo, hàn thả quý yên, sỉ dã).

Những điều dạy bảo này của thánh nhân thật là thông minh, rành mạch: Con người sống phải theo chiều gió, như hòn bi trơn. Chờ cho người khác bình thiên hạ xong rồi thì ta nhảy ra kiếm một chức quan. Lúc dầu sôi lửa bỏng thì ta ở nhà đánh giày cho thật trơn, và gửi vợ con đến những nơi an toàn nhất.

Đại khái để làm một nhà Nho chính thống - có thể làm hội trưởng Hội Khổng Mạnh được - là kiểu như vậy. Nghĩa là tìm cái thế lợi nhất để thích ứng, để cho bản thân được an toàn, "tấm thân nghìn vàng không ngồi trong căn nhà sắp đổ" (Thiên kim chi tử, tọa bất thùy đường). Những phần tử trí thức cho rằng không bao giờ nên đến gần một nơi mà một viên ngói có thể rơi vào đầu.

Đối với những thối nát chính trị, những đau khổ của dân lành, mình chẳng dính vào làm gì cho mệt thân, có nhìn thấy cũng cứ tai ngơ mắt lấp cho xong. Vì nhìn thấy thường khó tránh khỏi tức giận, tức giận thường khó tránh khỏi nói toáng lên, nói toáng lên thường khó tránh khỏi bị tai vạ.

Than ôi! Trong toàn bộ giáo huấn của nhà Nho hầu như không có gì khuyến khích con người suy nghĩ hay ho, rất ít nói đến quyền lợi, nghĩa vụ, rất ít khích lệ cạnh tranh, mà chỉ muốn học trò mình, rồi lại học trò của học trò mình an phận với hiện trạng mà ung dung tự đắc. Cái gì cũng có thể làm, miễn là nó không đem đến cho mình cái gì nguy hiểm cả.

Tại sao Khổng Tử ít khen ai ngoài Nhan Hồi - cái anh chàng học trò nghèo rớt mùng tơi đó ? Ông hết sức tán dương sự chịu đựng nghèo khổ của anh học trò này mà không hề tìm hiểu trách nhiệm của cái xã hội đã làm cho "ông thánh bậc nhì" này thành nghèo khổ đến như thế.

Lại không hề nghĩ làm thế nào để cải tổ cái quần thể xã hội đó, mà chỉ dương đôi mắt mù quáng dạy đời rằng: "Nghèo cũng hạnh phúc được!".

Nếu mỗi người Trung Quốc đều hạnh phúc kiểu đó, quốc gia dân tộc chắc chắn phải quay về thời kỳ đồ đá mà thôi !

Người TQ xấu xí (2): "Kẻ thù của người TQ chính là người TQ!"

Xin tiếp tục giới thiệu với các bạn một đoạn khác trong tác phẩm Người TQ xấu xí của Bá Dương, bản dịch là của Nguyễn Hồi Thủ.

Đoạn trích hôm nay nói về một số đặc điểm (xấu xí) của người TQ mà theo tác giả nó là do văn hóa để lại. Từ văn hóa này làm cho tôi nhớ lại: hôm trước có những người phản bác tôi rất nặng nề vì tôi có nhắc đến "văn hóa đạo văn". Các bạn ấy cho rằng nói "văn hóa đạo văn" là sai, thậm chí xúc phạm dân tộc. Vì văn hóa phải là những gì cao quý, đẹp đẽ, chứ làm sao lại có cái gọi là văn hóa đạo văn, và VN thì không thể nào có văn hóa đạo văn được, "người Việt cao quý" cơ mà! ("minh châu trời đông", "nước thiêng tiên rồng" gì gì đấy, mà lại!)

Thôi thì ai muốn hiểu sao thì hiểu, nhưng hôm nay đọc Bá Dương thì tôi thấy như thế này: Quả thật tác giả rất dũng cảm, và cũng có lẽ vì người TQ đã dám nhìn nhận và viết ra cho mọi người cùng soi về sự xấu xí của họ từ trước đầu thiên niên kỷ này, nên ngày nay họ mới phát triển như thế chăng? Ai biết đâu được nhỉ?

-------------
Tôi nghĩ người Trung Quốc chúng ta có phẩm chất cao quý. Nhưng tại sao cả trăm năm rồi, cái phẩm chất ấy thủy chung vẫn không làm cho người Trung Quốc thoát khỏi khổ nạn? Nguyên do vì sao? Tôi muốn mạo muội đề xuất một câu trả lời có tính cách tổng hợp: Đó là vì văn hóa truyền thống Trung Quốc có một loại siêu vi trùng, truyền nhiễm, làm cho con cháu chúng ta từ đời này sang đời nọ không khỏi được bệnh.

Có người sẽ bảo: "Tự mình không xứng đáng, lại đi trách tổ tiên!". Xét cho kỹ câu nói này có một sơ hở lớn. Trong vở kịch nổi tiếng "Quần ma" (Những con ma) của Ibsen (íp-sen) có kể chuyện hai vợ chồng mắc bệnh giang mai sinh ra một đứa con cũng bị bệnh di truyền. Mỗi lần phát bệnh nó lại phải uống thuốc. Có lần tức quá nó kêu lên: "Con không uống thuốc này đâu! Con thà chết đi thôi! Bố mẹ đã cho con cái thân thể như thế này à!?" Trường hợp này thì nên trách đứa bé hay trách bố mẹ nó? Chúng ta không phải trách bố mẹ, cũng không phải trách tổ tiên chúng ta, nhưng nhất quyết phải trách cái thứ văn hóa họ đã truyền lại cho chúng ta. Một nước rộng ngần đó, một dân tộc lớn ngần đó, chiếm đến một phần tư dân số toàn cầu, lại là một vùng cát chảy của sự đói nghèo, ngu muội, đấu tố, tắm máu mà không tự thoát được.

Tôi nhìn cách cư xử giữa con người với nhau ở những nước khác mà lại càng thèm. Cái văn hóa truyền thống kiểu nào để sinh ra hiện tượng này? Nó đã khiến cho người Trung Quốc chúng ta mang sẵn trong mình nhiều đặc tính rất đáng sợ!

Một trong những đặc tính rõ nhất là dơ bẩn, hỗn loạn, ồn ào. Đài Loan đã từng có một dạo phải chống bẩn và chống hỗn loạn, nhưng chỉ được mấy ngày. Cái bếp của chúng ta vừa bẩn vừa lộn xộn. Nhà cửa chúng ta cũng vậy. Có nhiều nơi hễ người Trung Quốc đến ở là những người khác phải dọn đi. Tôi có một cô bạn trẻ tốt nghiệp đại học chính trị. Cô này lấy một người Pháp rồi sang Pa-ri sinh sống. Rất nhiều bạn bè đi du lịch Âu châu đều ghé nhà cô trú chân. Cô ta bảo với tôi: "Trong tòa nhà tôi ở, người Pháp đều dọn đi cả, bây giờ toàn người Á đông nhảy vào!" (Người Á đông có khi chỉ người châu Á nói chung, có khi lại chỉ người Trung Quốc). Tôi nghe nói vậy rất buồn, nhưng khi đi xem xét tận mắt mới thấy là chỗ nào cũng đầy giấy kem, vỏ hộp, giầy dép bừa bãi, trẻ con chạy lung tung, vẽ bậy lên tường, không khí trong khu bốc lên một mùi ẩm mốc. Tôi hỏi: "Các người không thể tổ chức quét dọn được hay sao?" Cô ta đáp: "Làm sao nổi!"

Không những người nước ngoài thấy chúng ta là bẩn, loạn, mà qua những điều họ nhắc nhở chúng ta cũng tự thấy mình là bẩn, loạn.

Còn như nói đến ồn ào, cái mồm người Trung Quốc thì to không ai bì kịp, và trong lĩnh vực này người Quảng Đông phải chiếm giải quán quân. Ở bên Mỹ có một câu chuyện tiếu lâm như sau: Có hai người Quảng Đông lặng lẽ nói chuyện với nhau, người Mỹ lại tưởng họ đánh nhau, bèn gọi điện báo cảnh sát. Khi cảnh sát tới, hỏi họ đang làm gì, họ bảo: " Chúng tôi đang thì thầm với nhau".

Tại sao tiếng nói người Trung Quốc lại to? Bởi tâm không yên ổn. Cứ tưởng lên cao giọng, to tiếng là lý lẽ mình mạnh. Cho nên lúc nào cũng chỉ cốt nói to, lên giọng, mong lý lẽ đến với mình. Nếu không, tại sao họ cứ phải gân cổ lên như thế?

Tôi nghĩ những điểm này cũng đủ để làm cho hình ảnh của người Trung Quốc bị tàn phá và làm cho nội tâm mình không yên ổn. Vì ồn ào, dơ bẩn, hỗn loạn dĩ nhiên có thể ảnh hưởng tới nội tâm, cũng như sáng sủa, sạch sẽ với lộn xộn, dơ bẩn là hai thế giới hoàn toàn khác xa nhau.

Còn về việc xâu xé nhau thì mọi người đều cho đó là một đặc tính nổi bật của người Trung Quốc. Một người Nhật đơn độc trông chẳng khác nào một con lợn, nhưng ba người Nhật hợp lại lại thành một con rồng. Tinh thần đoàn kết của người Nhật làm cho họ trở thành vô địch. Bởi vậy trong lĩnh vực quân sự cũng như thương mại người Trung Quốc không thể nào qua mặt được người Nhật. Ngay tại Đài Loan, ba người Nhật cùng buôn bán thì lần này phiên anh, lần sau đến lượt tôi. Người Trung Quốc mà buôn bán thì tính cách xấu xa tức thì lộ ra bên ngoài theo kiểu: Nếu anh bán 50 tôi sẽ bán 40. Anh bán 30 tôi chỉ bán 20.

Cho nên, có thể nói, mỗi người Trung Quốc đều là một con rồng, nói năng vanh vách, cứ như là ở bên trên thì chỉ cần thổi một cái là tắt được mặt trời, ở dưới thì tài trị quốc bình thiên hạ có dư. Người Trung Quốc ở một vị trí đơn độc như trong phòng nghiên cứu, trong trường thi - nơi không cần quan hệ với người khác - thì lại có thể phát triển tốt. Nhưng nếu ba người Trung Quốc họp lại với nhau, ba con rồng này lại biến thành một con heo, một con giòi, hoặc thậm chí không bằng cả một con giòi nữa. Bởi vì người Trung Quốc có biệt tài đấu đá lẫn nhau.

Chỗ nào có người Trung Quốc là có đấu đá, người Trung Quốc vĩnh viễn không đoàn kết được, tựa hồ trên thân thể họ có những tế bào thiếu đoàn kết. Vì vậy khi người nước ngoài phê phán người Trung Quốc không biết đoàn kết thì tôi chỉ xin thưa: "Anh có biết người Trung Quốc vì sao không đoàn kết không? Vì Thượng đế muốn thế. Bởi vì nếu một tỷ người Hoa đoàn kết lại, vạn người một lòng, anh có chịu nổi không? Chính ra Thượng Đế thương các anh nên mới dạy cho người Hoa mất đoàn kết!" Tôi tuy nói thế nhưng rất đau lòng.

Người Trung Quốc không chỉ không đoàn kết, mà mỗi người lại còn có đầy đủ lý do để có thể viết một quyển sách nói tại sao họ lại không đoàn kết. Cái điều này thấy rõ nhất tại nước Mỹ với những hình mẫu ngay trước mắt. Bất cứ một xã hội người Hoa nào ít nhất cũng phải có 365 phe phái tìm cách tiêu diệt lẫn nhau.

Ở Trung Quốc có câu: "Một hòa thượng gánh nước uống, hai hòa thượng khiêng nước uống, ba hòa thượng không có nước uống". Người đông thì dùng để làm gì? Người Trung Quốc trong thâm tâm căn bản chưa biết được tầm quan trọng của sự hợp tác. Nhưng nếu anh bảo họ chưa biết, họ lại có thể viết ngay cho anh xem một quyển sách nói tại sao cần phải đoàn kết.

Lần trước (năm 1981) tôi sang Mỹ ở tại nhà một người bạn làm giáo sư đại học - anh này nói chuyện thì đâu ra đấy; thiên văn, địa lý; nào là làm sao để cứu nước... - Ngày hôm sau tôi bảo: "Tôi phải đi đến đằng anh A một tý!". Vừa nghe đến tên anh A kia, anh bạn tôi trừng mắt giận dữ. Tôi lại bảo: "Anh đưa tôi đi một lát nhé!". Anh ta bảo: "Tôi không đưa, anh tự đi cũng được rồi!".

Họ cùng dạy học tại Mỹ, lại cùng quê với nhau mà tại sao không thể cùng đội trời chung? Có thể nào nói như vậy là hợp lý được? Bởi vậy việc người Hoa cắn xé nhau là một đặc trưng nghiêm trọng.

Những người sống tại Mỹ đều thấy rõ điều này: đối xử với người Trung Quốc tệ hại nhất không phải là người nước ngoài, mà chính lại là người Trung Quốc với nhau. Bán rẻ người Trung Quốc, hăm dọa người Trung Quốc lại cũng không phải là người Mỹ mà là người Hoa.

Tại Ma-lai-xi-a có một chuyện thế này. Một ông bạn tôi làm nghề khai thác mỏ khoáng sản. Anh ta bỗng nhiên bị tố cáo một chuyện rất nghiêm trọng. Sau khi tìm hiểu mới biết rằng người tố cáo mình lại là một bạn thân của anh ta, một người cùng quê, cùng đến Ma-lai-xi-a tha phương cầu thực với nhau. Người bạn tôi chất vấn anh kia: "Tại sao anh lại đi làm cái việc đê tiện đó?". Người kia bảo: "Cùng đi xây dựng cơ đồ, bây giờ anh giàu có, tôi vẫn hai tay trắng. Tôi không tố cáo anh thì tố ai bây giờ?"

Cho nên kẻ thù của người Trung Quốc lại là người Trung Quốc.

Chủ Nhật, ngày 13 tháng 2 năm 2011

Những đoạn trích từ cuốn "Người TQ xấu xí" (1): Ba câu nói

Tôi đang đọc cuốn Người TQ xấu xí, một cuốn sách mà tôi đã nghe về nó từ khá lâu rồi nhưng nay mới có dịp đọc.

Đọc, và thấm thía với câu nói của ai đó: Chỉ cần đổi tựa cuốn sách thành "Người VN xấu xí" thì nó vẫn đúng như thường. Vì quả thật, nó ... giống ta quá! Hóa ra là người VN giống người TQ đến thế hay sao, ý tôi muốn nói là giống ở những chỗ xấu xí ấy.

Dưới đây là một đoạn trích từ bài viết "Ba câu nói", trong đó tác giả Bá Dương so sánh cái văn hóa của Mỹ với 3 câu nói cửa miệng là "xin lỗi", "cám ơn", và "tôi có thể giúp gì được?" với cái văn hóa nhất định không bao giờ xin lỗi, cám ơn hoặc đề nghị giúp đỡ người khác của TQ.

Trong đoạn trích ở đây có chỗ nói về những phản ứng thông thường của người TQ khi đi ra đường mà lỡ va chạm phải nhau. Quả thật, sao mà nó giống ở VN thế cơ chứ?

Trước khi các bạn đọc, tôi muốn đặt câu hỏi, và mong có người trả lời giúp: Phải chăng sự gia tăng bạo lực học đường chỉ là sự nối dài của những hành xử thường xuyên ở ngoài đường vào trong nhà trường mà thôi? Nói cách khác, thay vì nhà trường là nơi dạy trẻ em những điều hay lẽ phải (nếu nó có hiệu quả thực sự), thì bây giờ chúng đã hoàn toàn bất lực trước sự xâm chiếm của các điều xấu từ xã hội nhiễm vào? Có nghĩa là chúng ta không còn một thành trì nào nữa của đạo đức - vì tôn giáo, nền tảng của đạo đức cá nhân thì biết bao năm nay đã bị đánh tan tác (vì sự ủng hộ và cổ vũ cho chủ nghĩa vô thần), và học đường thì chỉ biết làm theo chỉ đạo của bên trên, những chỉ đạo chỉ quan tâm nhiều đến chính trị và kế đến là chuyên môn, nhưng hoàn toàn quên đi phần đạo đức cá nhân (khái niệm đạo đức đã bị thay bằng khái niệm hồng, mà hồng = hăng hái tham gia các phong trào do các tổ chức chính trị chính thống - Đảng, Đoàn - chỉ đạo??????)

Mọi người đọc bên dưới nhé.

----------------
BA CÂU NÓI
Cái lúng túng lớn nhất của người Trung Quốc khi mới đến Mỹ là gặp quá nhiều loại lễ nghi phức tạp của người Mỹ. Ngoài đường nhỡ vô tình chạm vai vào một người khác, dù chạm thật nhẹ cơ hồ như không chắc có chạm không, là người kia đều nói: "Xin lỗi!" Nếu như đụng thật, da thịt đôi bên đều cảm thấy, thì cái câu xin lỗi ấy sẽ rất là ai oán. Còn nếu đụng mạnh vào nhau một cái rầm thì cái câu xin lỗi này sẽ trở thành liên hồi, liên thanh khó mà chống đỡ được.

Tại Trung Quốc nếu hai người đụng nhau trên đường thì lại hoàn toàn khác. Phản ứng của đôi bên sẽ nhanh như chớp, mắt long lên, trợn trừng nhìn nhau như sắp biểu diễn một màn nhẩy cao. Câu đầu tiên dùng để nói với nhau sẽ là kiểu: "Mắt mù à?" Đối thủ cũng lập tức nhảy cỡn lên phản công: "Ái dà! Ai mà cố ý! Đi đụng vào người ta mà lại còn không biết điều! " Người kia lại gân cổ to tiếng hơn: "Đụng vào người ta mà lại còn già mồm, không biết được giáo dục kiểu gì?" Đối thủ mồm cũng không kém: "Đụng vào thì đã chết chưa? Chắc muốn người ta quỳ xuống lậy mình chắc? Bảo người ta đụng mình à? Thế mình lại không đụng vào người khác đấy? Chính mình đi đụng vào người ta mà lại còn muốn đổ vấy cho người!". Sự tình đến đây, người có vẻ yếu thế hơn sẽ bỏ đi, mồm lẩm bẩm chửi rủa, trong khi đó cái người có vẻ cứng mạnh hơn dơ chân múa tay, giọng điệu đe dọa khiến cho cả đám đông kéo nhau đến như thể sắp xem một đám đánh lộn.

Nếu độc giả chú ý, từ lúc đụng nhau cho đến lúc rã đám, chúng ta không hề nghe được một câu "xin lỗi". Cái môn "đến chết cũng không nhận lỗi" rất tinh thông này của người Trung Quốc biểu hiện khá đầy đủ trong cái chuyện va vào nhau trên đường. Người Trung Quốc đã mất khả năng nói "xin lỗi". Họ đều giống như những hỏa tiễn phun lửa, chỉ có cái dũng khí dựa trên sức lực để hơn thua với nhau mà thôi.

Một trong những đặc trưng của văn minh Tây phương là thừa nhận và tôn trọng sự tồn tại của người khác, cho nên họ luôn luôn để ý, cẩn thận trong việc biểu lộ sự tôn trọng đó. Người ta dẫm lên chân mình, cố nhiên "Xin lỗi!". Thực ra chưa dẫm mà chỉ suýt dẫm lên thôi, cũng "Xin lỗi!". Ho một tiếng, cố nhiên là "Xin lỗi!". Hắt xì hơi một tiếng nhỏ cũng "Xin lỗi!".

Đang lúc nói chuyện mà cần đi tiểu tiện, cố nhiên "Xin lỗi!". Đang ngồi ăn mà nhà bếp bị cháy phải đi dập lửa, cũng "Xin lỗi!" Du khách vẫn thường thấy cảnh khi anh đang loay hoay chụp ảnh, có người vô ý đi vào giữa, cũng vội vàng "Xin lỗi!". Hầu như tất cả những người Tây phương khi họ thấy anh dơ máy ảnh lên đều dừng bước lại ngay, đứng cười, và chờ anh chụp ảnh xong mới tiếp tục đi. Nếu người chụp ảnh là đồng bào Trung Quốc, họ sẽ chẳng có phản ứng gì khi anh tránh chỗ cho họ chụp. Nhưng nếu người chụp ảnh là người Tây phương mà anh làm như vậy thì họ nếu không nói "xin lỗi" thì cũng "cảm ơn ông nhiều".

"Cảm ơn" và "Xin lỗi" đối với tôi rất đáng sợ. Cả hai thứ cùng ghê gớm như nhau. Ở trên thế giới này không hiểu sao người ta lại có thể lãng phí nước bọt cho hai cái câu này nhiều đến như thế. Tôi vốn là người tinh thông thập bát ban võ nghệ, tưởng có thể tránh thoát được sự bao vây của hai cái câu này khi đến Mỹ, nhưng không ngờ lại khó đến thế. Tôi càng cố tránh thì họ lại càng nói "cảm ơn ông".

Anh chờ cho họ chụp ảnh xong mới đi qua, họ cố nhiên "cảm ơn anh”. Lúc đi mua đồ, đưa tay lấy hàng họ cũng nói "cảm ơn" với người bán hàng. Tại Trung Quốc, một khách hàng chẳng bao giờ nói cảm ơn đã đành, nhưng nếu người bán hàng mà nói cảm ơn chắc cái trần nhà thể nào cũng phải sập vì cảm động.

Đến ngân hàng Mỹ rút tiền, các bà ngồi két đưa tiền cho anh cũng cảm ơn. (Anh cứ thử cái việc này ở các ngân hàng của chúng ta xem, chắc chắn anh sẽ lập tức tương tư Tây phương ngay). Nếu anh vượt quá tốc độ hoặc rẽ ở chỗ cấm rẽ, cảnh sát đưa giấy phạt cho anh lại cũng nói cảm ơn. Một người bạn tôi, ông Chu Quang Khải, chở tôi đi đỗ xe; đến cổng một bãi đậu xe phải trả tiền, lúc cầm vé ông cũng lại "cảm ơn". Tôi thắc mắc: "Này, sao anh đã trả tiền đàng hoàng chứ ông ta có để cho anh đậu không mất tiền đâu mà lại còn phải cảm ơn?" Anh ta nghĩ một lúc lâu rồi cũng không hiểu lý do tại sao. Nhưng đến lần thứ hai anh lại cũng vẫn "cảm ơn ông" làm tôi tức muốn chết.

Nhưng cái "cảm ơn ông" sâu đậm nhất đối với một người già đầu như tôi vẫn là trường hợp của cái cửa tự động. Lúc đi qua cái thứ cửa có lò xo tự động này tôi thường cứ buông tay cho nó tự đóng lại. Sau khi đến Mỹ, đương nhiên vẫn cứ làm như vậy. Bạn bè nhiều lần khuyên can: "Ở đây là cái nước man rợ, anh đừng đem thứ văn hóa truyền thống 5.000 năm qua đây nhé. Khi nào đi qua cửa anh nhớ nhìn xem đằng sau có ai không trước khi từ từ buông cửa ra".

Buồn cười thật, tôi qua Mỹ để du lịch chứ có phải để làm thằng gác cửa cho người khác đâu. Tôi đã từng đi qua nhiều cửa tự động hơn anh ta tưởng, cần gì để cho anh ta phải dậy tôi như vậy. Nhưng rồi tới một ngày, tôi đã hiểu cái chuyện anh muốn nói đó.

Lần ấy, sau khi đi qua cửa tôi đã buông cái cánh cửa có lò xo mạnh ấy cho nó tung ra như tôi vẫn thường làm. Sau lưng tôi bỗng có một tiếng kêu lớn của một ông già da trắng. Bạn tôi và tôi bấn cả người lên cơ hồ muốn quỳ xuống mà xin tha lỗi (Thực ra tôi muốn tìm đường rút lui một cách êm thắm, nhưng những người nghe tiếng kêu vội đến cứu ông già nhiều quá làm tôi không chuồn được).

Cũng thật may là cánh cửa đập không làm chấn thương gì đầu óc ông cụ cả. Ông cụ nhìn mặt mũi và cách ăn mặc của chúng tôi, chắc đoán rằng đây là những nhân vật quan trọng của cái bộ lạc ăn thịt người ở Tân Ghi-nê, nên cũng chẳng thèm lý đến nữa.

Sau chuyện này người bạn mới bảo tôi: "Dù anh có chưa bao giờ anh ăn thịt lợn thì cũng phải xem qua cách lợn chạy, cứ bắt chước người Tây phương mà làm, đó là con đường yêu nước chân chính đấy!"

Trời ơi! thì ra người Tây phương mỗi khi đi qua cửa đều dừng chân giữ cửa, chờ cho những khách đi sau nối đuôi nhau đi vào trước mình. Hoặc ít nhất thì cũng quay lại giữ cửa cho đến khi người đi sau tiếp được cửa rồi, mới từ từ bỏ tay ra.

Đúng là đi một đàng học một sàng khôn. Bây giờ cái việc giữ cửa này tôi đã thuộc như cháo. Và từ đấy trở đi tôi liên tục nghe được từ cửa miệng những ông già, bà già Mỹ cái câu "cảm ơn ông" sướng cả lỗ tai.

Lúc quay lại Đài Loan tôi vẫn quen thói "tôn sùng" Tây phương này. Nhưng chỉ được ba hôm thì lại vẫn chứng nào tật nấy. Mà cái đó không phải vì ý chí của tôi yếu đuối, nhưng vì mỗi lần dừng lại cung kính giữ cửa, thì cái ông bạn da vàng ở đằng sau nhìn tôi như thể mồm anh ta đang ngậm cứt khô, không thể nào nghe được một thanh âm gì giống như tiếng "cảm ơn" từ nó cả. Tôi bèn cứ thả cho cửa nó tung ra như thói quen cũ, mặc kệ mẹ cho nó đập vào mặt ai thì vào, có đập chết cũng được!

Tôi nghi rằng để có thể móc trong mồm một người Trung Quốc ra cái câu "cảm ơn ông" e rằng nếu không dùng đến cái cào cỏ năm răng của ông bạn Trư Bát Giới của chúng ta thì không thể được.

Thật ra cái câu "cảm ơn" và cái câu "xin lỗi" của người Mỹ cũng giống nhau. Chúng đã trở thành một bộ phận của đời sống dân chủ, từ đứa bé vừa học nói, mẹ nó chùi đít cho nó, nó cũng biết nói cảm ơn. Cái đó làm cho nó hơi có khuynh hướng "lạm phát".
------
Bài viết này vẫn còn dài dài, nhưng tôi chỉ trích có chừng ấy thôi. Để đọc từ từ cho thấm, các bạn ạ.

Còn câu hỏi của tôi dành cho các bạn thì sao nhỉ? Tôi nghĩ, ngược lại với ta (và TQ), những điều hay, lẽ phải mà thông thường ta nghĩ chỉ có trong sách vở và nhà trường thì nó đã ngấm vào máu, trở thành văn hoá của phương Tây rồi. Còn ta thì ngược lại, những cái thô lỗ, tục tằn, dữ tợn vv đã ngấm từ đường phố, chợ búa, chốn công cộng vào tận nhà trường, xóa đi cái ranh giới cuối cùng của cái gọi là người có học và người vô học. Ừ, thì bình đẳng mà, dân chủ mà!

Buồn quá đi mất!

Thứ Sáu, ngày 11 tháng 2 năm 2011

Đầu năm, đọc lại mấy bài thơ Tú Xương

Tết dán câu đối

Nhập thế cục bất khả vô văn tự, (1)
Chẳng hay ho cũng húng hắng một vài bài
Huống thân danh đã đỗ tú tài
Ngày tết đến cũng phải một vài câu đối.
Đối rằng :
Cực nhân gian chi phẩm giá, phong nguyệt tình hoài
Tối thế thượng chi phong lưu, giang hồ khí cốt. (2)
Viết vào giấy dán ngay lên cột
Hỏi mẹ mày rằng dốt hay hay ?
Thưa rằng : hay thực là hay !
Chẳng hay sao lại đỗ ngay tú tài ?
Xưa nay em vẫn chịu ngài .. .. (3)

(1). Bước vào đời không thể không chữ nghĩa.
(2). Cái phẩm giá tột cùng ở cõi người là tấm tình với trăng gió.
Sự phong lưu bậc nhất trên cõi đời là cốt cách giang hồ.
(3). Câu "chịu ngài" của bà Tú hàm cả hai ý :
chịu văn chương ngài hay và chịu cái tính "ngông" của ngài nữa !

--------------------------------------------------------------------------------

Ba cái lăng nhăng

Một trà một rượu một đàn bà
Ba cái lăng nhăng nó quấy ta.
Chừa được cái gì hay cái nấy,
Có chăng chừa rượu với chừa trà !

--------------------------------------------------------------------------------

Thú cô đầu

Cái thú cô đầu nghĩ cũng hay,
Cùng nhau dan díu mấy đêm ngày.
Năm canh to nhỏ tình dơi chuột,
Sáu khắc mơ màng chuyện nước mây.
Êm ái cung đàn chen tiếng hát
La đà kẻ tỉnh dắt người say.
Thú vui chơi mãi mà không chán,
Vô tận kho trời hết lại vay.

--------------------------------------------------------------------------------

Tết tặng cô đầu

Ngày xuân mừng quý khách
Khi vui, lọ đàn phách !
Chuyện nở như pháo rang
Chuyện dai như chão rách,
Đổ cả bốn chân giường
Xiêu cả một bức vách !

--------------------------------------------------------------------------------

Đi hát mất ô

Đêm qua anh đến chơi đây
Giầy chân anh dận, ô tay anh cầm.
Rạng ngày sang trống canh năm
Anh dậy, em hãy còn nằm trơ trơ.
Hỏi ô, ô mất bao giờ,
Hỏi em, em cứ ỡm ờ không thưa.
Chỉ e rày gió mai mưa
Lấy gì đi sớm về trưa với tình ?

--------------------------------------------------------------------------------

Không chiều đãi

Rước phải cô đào mới tẻo teo
Rác tai đà lắm sự ì èo
Cầm kì thi tửu, vui ra phá (1)
Điền sản tư cơ mấy cũng nghèo.
Bạn ác không vay mà thúc lãi (2)
Thói thành, dầu lịch cũng thành keo. (3)
Thôi thôi xin kiếu cô từ đấy
Chiều đãi thì tôi cũng .. .. váo đèo.

(1). Chuyện cô "đào non" có thói vòi tiền quá thể, nên vui hoá ra phá tán.
(2). Cô nàng như người bạn ác, thúc tiền như thúc lãi nợ.
(3). Người thị thành lịch sự cũng phải xử keo.


--------------------------------------------------------------------------------

Hỏi ông trời

Ta lên ta hỏi ông trời
Trời sinh ta ở trên đời biết chi ?
Biết chăng, cũng chẳng biết gì !
Biết ngồi Thống Bảo, biết đi ả đầu (1)
Biết thuốc lá, biết chè Tầu,
Cao lâu biết vị, hồng lâu biết mùi.

(1). Thống Bảo : một sòng bạc của Hoa Kiều.

--------------------------------------------------------------------------------

Tự đắc

Ta nghĩ như ta có dại gì ?
Ai chơi, chơi với, chẳng cần chi !
Kìa thơ tri kỉ, đàn anh nhất,
Nọ phách phong lưu, bậc thừ nhì.
Ăn mặc vẫn ra người thiệp thế,
Giang hồ cho biết bạn tương tri.
Gặp thời gặp vận nên bay nhảy
Cho thoả rằng sinh chẳng lỗi thì !

--------------------------------------------------------------------------------

Chú Mán

Phong lưu nhất ai bằng chú Mán (1)
Trong anh em chúng bạn kém thua xa.
Buổi loạn li bốn bể không nhà
Răng chẳng nhuộm, vợ chẳng lấy, lụa là chẳng mặc.
Mán chỉ làm đủ tiền tiêu vặt
Khi cao lâu, khi cà phê, khi nước đá,
khi thuốc lá, khi đủng đỉnh ngồi xe
Sự đời Mán chẳng buồn nghe.

(1) Chú Mán : một người đến ở Nam Định, làm nghề chở lợn thuê ở chợ Vị Hoàng. Nhưng tính cách có nhiều nét lạ, như một kẻ ngông và phớt đời. Tú Xương nhân lấy chú làm nhân vật trong thơ của mình.


--------------------------------------------------------------------------------

Nghèo mà vẫn vui

Kể xuất thế, ai bằng anh Mán (1)
Trải mùi đời khôn chán, giả làm ngây.
Hổ sinh ra lúc thời này,
An thân mệnh thế, giấu tay anh hùng.
Không danh cho dễ vẫy vùng
Mình không phú quí, mắt không công hầu.
Khi để chỏm, lúc cạo đầu,
Nghêu ngao câu hát nửa Tầu nửa ta.
Không đội nón, chịu màu da dãi nắng,
Chẳng nhuộm răng, để trắng dễ cười đời.
Chốn quyền môn luồn cúi mặc ai ai
Ngoài cương toả thảnh thơi ai đã biết ?
Chỉ ấm ớ, giả câm giả điếc
Cứ vui tràn khi hát khi ngâm
Trên đời mấy mặt tri âm !

(1) Tác giả muợn anh Mán để lồng cái tính cách của mình vào, tạo thành một thứ "nhân vật của thời đại" : có phẩm chất nhưng bất phùng thời, trở nên ngang tàng, kiêu hãnh và .. .. ngông.

--------------------------------------------------------------------------------

Áo bông che bạn (1)

Ai ơi, còn nhớ ai không ?
Trời mưa một mảnh áo bông che đầu.
Nào ai có tiếc ai đâu ?
áo bông ai ướt khăn đầu ai khô ?
Người đi Tam Đảo, Ngũ Hồ
Kẻ về khóc trúc than ngô một mình
Non non nước nước tình tình
Vì ai ngơ ngẩn cho mình ngẩn ngơ .. ..

(1) Nguyễn Công Hoan đã phân tích bài thơ và khẳng định "bạn" đây là một cô gái. Các cụ phụ lão ở Vị Xuyên cũng xác nhận đây là bài thơ tình tác giả viết cho bà Hai Đích (tức bà Côn), con gái tiến sĩ Nguyễn Công Độ. Hai người yêu nhau từ hồi còn trẻ, nhưng không lấy được nhau vì gia đình ông Nghè không thuận. Mãi sau này hai người vẫn lưu luyến nhau và bài thơ này ghi lại một kỉ niệm lúc đã muộn mằn.

--------------------------------------------------------------------------------

Hoá ra dưa

Ước gì ta hoá ra dưa
Để cho người tắm nước mưa chậu đồng !
Ước gì ta hoá ra hồng
Để cho người bế người bồng trên tay !

--------------------------------------------------------------------------------

Gửi người cũ (1)

Yêu nhau chẳng lấy được nhau nào
Mình nghĩ làm sao, tớ nghĩ sao ?
Trai gái bởi tay bà mụ nặn
Vợ chồng nguyên mối chị Hằng trao (2)
Xa đi ngán nỗi lòng thương nhớ
Gần lại càng thêm dạ khát khao.
Bến Vị non Nùng xa cách mấy (3)
Mà không buộc chặt sợi tơ đào ?

(1) Tức cô Tuyết, một cô đầu Hà Nội.
(2) Tức bà Nguyệt.
(3) Bến Vị Hoàng (Nam Định) và núi Nùng (Hà Nội).

--------------------------------------------------------------------------------

Nhớ bạn phương trời (1)

Ta nhớ người xa cách núi sông
Người xa xa lắm, nhớ ta không ?
Sao đang vui vẻ ra buồn bã ?
Vừa mới quen nhau đã lạ lùng !
Khi nhớ nhớ cùng trong mộng tưởng,
Nỗi riêng riêng cả đến tình chung.
Tương tư lọ phải là mưa gió (2)
Một ngọn đèn xanh trống điểm thùng.

(1) Có người nói đây là bài thơ nhớ Phan Bội Châu.
(2) Có bản chép "trai gái".

--------------------------------------------------------------------------------

Cái nhớ

Cái nhớ hình dung nó thế nào ?
Khiến người trong dạ ngẩn ngơ sao !
Biết nhau cho lắm thêm buồn nhỉ
Để khách bên trời dạ ước ao !

--------------------------------------------------------------------------------

Hỏi ông trăng

Ta lên ta hỏi ông trăng
Hoạ là ông có biết chăng sự đời !
Ông cao ông ở trên trời
Mà ông soi khắp nước người nước ta.
Năm châu cũng một ông mà
Kể riêng thì lại mỗi nhà mỗi ông.


--------------------------------------------------------------------------------

Chiêm bao

Bỗng thấy chiêm bao thấy những người
Thấy người nói nói lại cười cười.
Tỉnh ra lại tiếc người trong mộng
Mộng thế thì bằng tỉnh mấy mươi.


--------------------------------------------------------------------------------

Văn tế sống vợ (1)

Con gái nhà dòng, lấy chồng kẻ chợ
Tiếng có miếng không, gặp chăng hay chớ (2)
Mặt nhẵn nhụi, chân tay trắng trẻo, ai dám chê rằng béo rằng lùn ?
Người ung dung, tính hạnh khoan hoà, chỉ một bệnh hay gàn hay dở.
Đầu sông bãi bến, đua tài buôn chín bán mười
Trong họ ngoài làng, vụng lẽ chào dơi nói thợ (3)
Gần xa nô nức, lắm gái nhiều trai
Sớm tối khuyên răn, kẻ thầy người tớ.
Ông (4) tu tác cửa cao nhà rộng, phó mặc tay dâu,
Anh (5) lăm le bia đá bảng vàng, cho vang mặt vợ
Thế mà:
Mình bỏ mình đi, mình không chịu ở
Chẳng nói chẳng rằng, không than không thở.
Hay mình thấy tớ: nay Hàng Thao, mai phố Giấy mà bụng mình ghen ?
Hay mình thấy tớ : sáng Tràng Lạc, tối Vĩễn Lai, mà lòng mình sợ ? (6)
Thôi thôi chết quách yên mồ, sống càng nặng nợ
Chữ nhất phẩm ơn vua vinh tứ (7) ngày khác sẽ hay,
Duyên trăm năm ông Nguyệt xe dây, kiếp này đã lỡ.
Mình đi tu cho thành tiên thành phật, để rong chơi Lãng Uyển Bồng Hồ, (8)
Tớ nuôi con cho có rể có dâu, để trọn vẹn đạo chồng nghĩa vợ.

(1) Nhà thơ chơi bời phòng túng, tốn tiền, bà Tú giận doạ tự tử. Nhà thơ nhân đó làm bài văn tế này bày tỏ nỗi cảm thông với vợ.
(2) ý nói được sao hay vậy.
(3) Tức thật thà thẳng thắn, không thớ lợ.
(4) Ông: tức cha của nhà thơ.
(5) Anh : tức nhà thơ
(6) Hàng Thao (Nam Định), phố Giấy (Hà Nội), có nhà hát cô đàu nổi tiếng.
Tràng Lạc, Viễn Lai : Hai hiệu cao lâu nổi tiếng ở Nam Định.
(7) Một mơ ước "viễn tưởng".
(8) Các chốn tiên cảnh (thần thoại Trung Hoa)


--------------------------------------------------------------------------------

Phú thầy đồ dạy học

Thầy đồ thầy đạc
Dạy học dạy hành
Vài quyển sách nát
Dăm thằng trẻ ranh
Văn có hay đã đỗ làm quan, võng điều võng tía,
Số có giỏi đã ra giúp nước, khố đỏ khố xanh.
ý hẳn thầy văn dốt vũ dát, vả lại vừa gàn vừa dở,
Cho nên thầy lẩn quẩn loanh quanh.
Trông thầy
Con người phong nhã
ở chốn thị thành,
Râu rậm bằng chổi
Đầu to tày giành.
Cũng lắm phen đi đó đi đây, thất diên bát đảo,
Cũng nhiều lúc chơi liều chơi lĩnh, tứ đốm tam khoanh.
Nhà lính tính quan, ăn rặt những lạp xường, mặc rặt những quần vân áo xuyến,
Đất lề quê thói, chỗ ngồi cũng án thư, bàn độc, ngoài hiên cũng cánh xếp mành mành.
Gần có một mụ
Sinh được bốn anh :
Tên Uông, tên Bái
Tên Bột, tên Bành.
Mẹ muốn con hay, rắp một nỗi biển cờ mũ áo,
Chủ rước thầy học, tính đủ tiền chè rượu cơm canh.
Chọnh ngày lễ bái
Mở cửa tập tành.
Thầy ngồi chễm chệ
Trò đứng xung quanh.
Dạy câu Kiều lẩy,
Dạy khúc lí kinh
Dạy những khi xuống ngựa lên xe, đứng ngồi phải phép,
Dạy những lúc cao lâu chiếu hát, ăn nói cho sành .. .. (1)

(1) Đủ thấy "chương trình" dạy của thầy đồ có một không hai này "phá cách" đến mức nào !